✨Bắc Ngụy
Nhà Bắc Ngụy (tiếng Trung: 北魏朝, bính âm: běi wèi cháo, 386–535), còn gọi là Thác Bạt Ngụy (拓拔魏), Hậu Ngụy (後魏) hay Nguyên Ngụy (元魏), là một triều đại thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc, được cai trị bởi thị Thác Bạt của người Tiên Ti. Sự kiện đáng chú ý nhất của triều đại này là việc thống nhất miền bắc Trung Quốc năm 439.
Nhà nước này cũng tham gia mạnh mẽ vào việc tài trợ cho nghệ thuật Phật giáo nên nhiều đồ tạo tác cổ và tác phẩm nghệ thuật từ thời kỳ này còn được bảo tồn. Năm 494, triều đại này di chuyển kinh đô từ Bình Thành (nay là Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây) về Lạc Dương và bắt đầu cho xây dựng hang đá Long Môn. Trên 30.000 tượng Phật từ thời kỳ của triều đại này còn được tìm thấy trong hang. Người ta cho rằng triều đại này bắt nguồn từ bộ Thác Bạt của tộc Tiên Ti. Dưới ảnh hưởng của Phùng thái hậu và Ngụy Hiếu Văn Đế, Bắc Ngụy đẩy mạnh Hán hóa, thậm chí đổi họ hoàng tộc từ Thát Bạt sang Nguyên. Việc áp đặt Hán hóa gây mâu thuẫn sâu sắc giữa giới quý tộc Bắc Ngụy tại Lạc Dương và người Tiên Ti ở 6 quân trấn (lục trấn) phương bắc - là 6 tiền đồn lập lên nhằm phòng thủ người Nhuyễn Nhuyên (còn gọi Nhu Nhiên) - dẫn đến việc nổi loạn của người lục trấn, làm suy sụp hệ thống lưới cai trị từ Lạc Dương. Sau một thời gian xung đột, Bắc Ngụy bị phân chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy vào năm 534.
Sự trỗi dậy của thị tộc Thác Bạt
nhỏ|Tượng Phật thời Bắc Ngụy. Niên đại khoảng năm 489. Bảo tàng quốc gia Tokyo. Nhà Tây Tấn (265-420) đã gây dựng một liên minh với thị tộc Thác Bạt để chống lại nhà nước của người Hung Nô là Hán Triệu. Năm 315, thủ lĩnh Thác Bạt đã được phong làm Đại vương. Tuy nhiên, sau cái chết của người lập ra vương quốc là Thác Bạt Ỷ Lư, nước Đại bị trì trệ và tồn tại chủ yếu dưới dạng nửa liên minh, nửa chư hầu đối với Hậu Triệu và Tiền Yên, cuối cùng mất về tay Tiền Tần năm 376.
Thời Ngụy Tấn, tại vùng phía bắc và đông bắc có đông người Tiên Ti sinh sống, trong đó có họ Mộ Dung và họ Thác Bạt lớn mạnh. Bắc Ngụy xuất xứ tại núi Tiên Ti thuộc Bắc Lộc, dãy Đại Hưng An.
Họ Thác Bạt trấn trị phía bắc, xen lẫn với người Hung Nô. Ngay từ thời Hán Hòa Đế, đại tướng Đậu Hiến đánh bại Hung Nô, Tiên Ti thừa cơ chiếm lĩnh đất cũ của Hung Nô, hơn mười vạn hộ Hung Nô tự xưng là Tiên Ti, gia nhập tộc Tiên Ti cùng với văn hóa Hung Nô và sự sùng bái nguyên thủy của người Hung Nô. Do đó Tiên Ti lại là dân tộc hỗn hợp Đông Hồ và Tiên Ti. Thác Bạt bộ Tiên Ti cực kỳ hung hãn, nhưng văn hóa Tiên Ti lạc hậu, chữ viết chưa có. Thế nhưng họ có tính cách mạnh mẽ và cái đầu thông minh như sói thảo nguyên Mông Cổ, tài năng quân sự siêu việt, là một chi cự phách trong Đông Hồ.
Nước Đại là một nhà nước của thị tộc Thác Bạt thuộc bộ lạc Tiên Ti tồn tại trong thời kỳ Thập lục quốc ở Trung Quốc. Quốc gia này tồn tại từ khoảng năm 310-315 tới năm 376, với kinh đô đặt tại Thịnh Lạc (ngày nay gần huyện Hòa Lâm Cách Nhĩ, Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông).
Sau khi hoàng đế Tiền Tần Phù Kiên bị quân Đông Tấn đánh bại tại trận Phì Thủy trong cố gắng không thành để thống nhất Trung Quốc, Tiền Tần bắt đầu tan rã. Nhiều tướng lĩnh Tiền Tần li khai, các bộ lạc bị chinh phục cũng nổi dậy. Dưới quyền của Thác Bạt Khuê, thủ lĩnh bộ tộc Thác Bạt là ba anh em Trưởng Tôn Tung, Trưởng Tôn Phổ Lạc và Trưởng Tôn Đạo Sinh, các mưu sĩ người Hán Trương Cổn và Hứa Khiêm. Năm 386, Thác Bạt Khuê, cháu trai Thác Bạt Thập Dực Kiện (Đại vương cuối cùng), đã giành lại độc lập của người Thác Bạt ban đầu như là vương quốc Đại. Sau đó ông đổi tước hiệu của mình thành Ngụy vương, sau này triều đại của ông được gọi là Bắc Ngụy.
Thống nhất phương Bắc
Thời kỳ 386-394 Lúc bấy giờ Thác Bạt Khuê phải đối phó với các thế lực khác: Phía nam có bộ lạc Độc Hồ, phía bắc có bộ tộc Hạ Lan, phía đông có Khố Xa Khê, phía tây một dải Hoàng Hà có Thiết Phất bang của tộc Hung Nô, ở Âm Sơn lại có bộ tộc Nhu Nhiên và Cao Xa. Năm 391, Thác Bạt Khuê đánh bại các bộ lạc Nhu Nhiên và giết chết thủ lĩnh của họ là Yujiulü Heduohan (Uất Cửu Lư Hạt Đa Hãn), buộc người Nhu Nhiên phải chạy về phía tây.
Ban đầu Bắc Ngụy là chư hầu Hậu Yên, nhưng vào năm 395 đã nổi dậy chống Hậu Yên vào năm 398 đã xâm chiếm phần lớn lãnh thổ Hậu Yên về phía bắc sông Hoàng Hà. Cùng năm, ông lập kinh đô tại Bình Thành (Sơn Tây, Trung Quốc). Sự lớn mạnh và xâm thực của Thác Bạt Khuê khiến nước Hậu Yên hùng mạnh của Mộ Dung Thùy bị suy sút thảm hại. Sau khi Thùy chết, Hậu Yên từ một cường quốc phương Bắc sau khi Tiền Tần tan rã bị cắt làm hai nước nhỏ bé: một nửa theo ngành chính chạy lên tận Long Thành ở Liêu Đông phía đông bắc, một nửa do Mộ Dung Đức cầm đầu chạy về Hoài Bắc (Nam Yên).
Năm 399, Thác Bạt Khuê tự xưng là Đạo Vũ Đế. Cùng năm ông đánh bại các bộ lạc Cao Xa gần sa mạc Gobi.
Về đại thể, Thác Bạt Khuê đã lập nền tảng cho sự cai trị ở Trung Nguyên của nhà Bắc Ngụy. Mặc dù sau đó, trong cuộc chiến tàn khốc của Ngũ Hồ, một số quốc gia mới xuất hiện như Hạ của họ Hách Liên hoặc mất đi do cuộc Bắc tiến của Lưu Dụ nhà Đông Tấn như Nam Yên và Hậu Tần nhưng vị thế Bắc Ngụy không hề bị suy giảm.
Khi Lưu Dụ cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Lưu Tống (420), trên bản đồ phía bắc chỉ còn các nước: Bắc Ngụy, Bắc Yên, Hạ, Bắc Lương, Tây Tần.
Qua thời con ông là Minh Nguyên Đế Thác Bạt Tự đến thời cháu ông là Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo, Bắc Ngụy đã hoàn thành cuộc thống nhất toàn miền bắc Trung Quốc.
Năm 431, vua Hạ là Hách Liên Định mang quân diệt Tây Tần. Cùng năm 431, Thái Vũ Đế điều quân đánh Hạ. Nước Hạ vừa qua chiến tranh với Tây Tần, bị quân Ngụy diệt gọn.
Năm 436, Thái Vũ Đế đánh Bắc Yên, bắt vua Yên là Phùng Hoàng. Nước Bắc Lương còn lại trơ trọi cũng không tồn tại được lâu. Năm 439, Thác Bạt Đào đánh Bắc Lương, bắt vua Lương là Thư Cừ Mục Kiền. Cục diện Ngũ Hồ loạn Hoa hơn 100 năm với hơn 20 quốc gia chấm dứt.
Toàn thể phương bắc được thống nhất trong tay Bắc Ngụy. Miền nam trong tay nhà Lưu Tống. Cục diện đối lập giữa Bắc Ngụy ở miền bắc và các triều đại miền nam duy trì khá lâu và được sử sách gọi thời Nam Bắc triều (420 - 589).
Biên giới nhà Bắc Ngụy khi đó rất rộng lớn: đông bắc đến Liêu Tây, tây đến miền đông Tân Cương, nam đến Hoài Nam, bắc đến thảo nguyên Mông Cổ.
Chiến tranh với Lưu Tống
:Xem chi tiết: Chiến tranh Lưu Tống - Bắc Ngụy nhỏ|phải|Năm 440:
Lần thứ nhất
Chiến tranh giữa Ngụy và Tống bùng nổ ngay khi Ngụy chưa thống nhất được miền bắc. Năm 422, nhân lúc Tống Vũ Đế Lưu Dụ mới mất, Ngụy Minh Nguyên Đế phát động Nam tiến, sai Hề Cân đánh chiếm Hoạt Đài, đánh Hổ Lao; sai Thúc Tôn Kiến mang quân từ Bình Nguyên qua sông Hoàng Hà đánh các quận Thái Sơn, Cao Bình, Kim Hương; phía đông quân Ngụy tiến vào Thanh Châu, Đông Dương.
Tháng 1 năm 423, quân Ngụy hạ được thành Kim Dung, Lạc Dương và Lâm Tri. Các thành của Tống chỉ có Đông Dương và Hổ Lao còn cầm cự.
Tướng Tống là Đàn Đạo Tế mang quân cứu ứng, thấy Đông Dương yếu hơn và gần hơn nên cứu trước. Quân Ngụy đúng lúc đó bị dịch bệnh nên thấy viện binh phải lui. Đàn Đạo Tế không được cấp nhiều lương nên phải dừng lại không truy kích được. Thành bị phá nặng nên tướng trấn thủ Đông Dương là Trúc Quỳ phải dời tới thành Bất Kỳ.
Hổ Lao ở xa, các cánh quân của Đạo Tế ở Hồ Lục, của Lưu Túy ở Hạng Thành, của Thẩm Thúc Ly ở Cao Kiều nhưng không dám tới cứu vì sợ thế lớn của Bắc Ngụy. Do không được cứu nên tới tháng 4 năm 424, thành bị hạ. Quân Ngụy tuy lấy được thành nhưng tổn thất khá nhiều.
Sau lần chiến tranh đó, Lưu Tống bị mất vùng đất từ Hồ Lục, Hạng Thành trở lên phía bắc.
Lần thứ hai
Ngụy Thái Vũ Đế lên ngôi năm 425 lúc tình hình Lưu Tống cũng đã ổn định dưới thời Văn Đế. Nhân lúc Bắc Ngụy phải đối phó với Nhu Nhiên ở phía bắc, năm 429 Tống Văn Đế đòi Ngụy trả đất Hà Nam. Ngụy Thái Vũ Đế không chịu.
Năm 430, Tống Văn Đế sai Đáo Ngạn Chi mang quân Bắc phạt. Tháng 7 quân Tống tới Tu Xương. Quân Ngụy ở 4 thành Cao Ngao, Hoạt Đài, Hổ Lao và Kim Dung ít quân nên chủ động rút lui. Ngạn Chi thu 4 trấn rồi tiến đến bến Linh Xương và chia quân tiến sang Đồng Quan phía tây.
Thôi Hạo của Bắc Ngụy thấy quân Tống mắc sai lầm chí mạng là chỉ có 5 vạn mà dàn ngang 2.000 dặm đông-tây nên lực lượng rất yếu ớt. Tháng 10 cùng năm, Bắc Ngụy phản công, lấy lại được Lạc Dương và Hổ Lao.
Tháng 11, Tống Văn Đế lại sai Đàn Đạo Tế đi tiếp ứng. Nhưng Đạo Tế chưa tới thì Ngạn Chi bị mất 2 thành đã hoảng sợ, hạ lệnh đốt thuyền, bỏ giáp nặng rút về Bành Thành. Quân Ngụy đuổi theo đến Lịch Thành, thái thú Tế Nam của Tống là Tiêu Thừa Chi chỉ có vài trăm quân nhưng dụng "không thành kế", cho mở toang cổng thành. Quân Ngụy sợ có phục binh không dám vào thành. Các nhà sử học Trung Quốc cho rằng chính mưu kế này gợi ý cho La Quán Trung ghép vào chuyện không thành kế của Gia Cát Lượng lừa Tư Mã Ý trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa.
Tháng 2 năm 431, quân Ngụy giao tranh với Đàn Đạo Tế lên bắc cứu Hoạt Đài. Hai bên đánh nhau 30 trận, đều bị tổn thất nặng. Thúc Tôn Kiến bèn dùng kế đánh úp đường vận lương của quân Tống khiến Đạo Tế bị thiếu lương. Đạo Tế phải rút quân. Quân Ngụy truy kích bắt được Chu Tu Chi.
Cuộc bắc phạt của Tống Văn Đế thất bại.
Lần thứ ba
Chiến sự Tống - Ngụy tạm ngừng trong nhiều năm. Bắc Ngụy tập trung tiêu diệt các nước Ngũ Hồ còn lại như Hạ, Bắc Yên, Bắc Lương.
Sau khi củng cố thực lực, năm 450 Thái Vũ Đế điều 10 vạn quân vây đánh Huyền Hồ. Tướng Tống là Trần Hỷ chỉ có 1.000 quân chống trả trong 42 ngày, quân Ngụy bị thiệt hại hơn 1 vạn nhưng không hạ được thành. Tuy vậy, các thành xung quanh đều sợ thế Ngụy và bỏ thành rút chạy.
Lưu Tống yếu thế hơn, nhưng vua Tống vẫn muốn ra quân. Tháng 7 năm 450, quân Tống xuất phát. Phía đông, Vương Huyền Mô và Thẩm Khánh Chi cầm quân thủy; phía tây, hoàng tử Lưu Đãn cùng Liễu Nguyên Cảnh đánh chiếm Hoằng Nông.
;Chiến sự phía đông:
Tướng Ngụy ở các thành Cao Ngao, Nhạc An đều bỏ thành chạy. Huyền Mô đánh Hoạt Đài một tháng nhưng không hạ được. Tháng 9, Thái Vũ Đế đích thân Nam tiến cứu Hoạt Đài, phao tin là có trăm vạn quân. Vương Huyền Mô bỏ lỡ mấy cơ hội hạ thành, nghe tin đó hoảng sợ, rút quân. Quân Ngụy truy kích giết hơn vạn quân Tống.
Tổng chỉ huy Tiêu Bân nghe tin Huyền Mô thua trận, định đi cứu thì Mô đã chạy về đến nơi. Thấy quân Ngụy thế lớn, các tướng Tống phải bàn nhau rút về cố thủ ở Cao Ngao, Thanh Khẩu, Lịch Thành. Sau vì vị trí của Cao Ngao đặc biệt nên quân Tống phải bỏ Cao Ngao.
;Chiến sự phía tây:
Tướng Tống là Liễu Nguyên Cảnh cùng lão tướng Bàng Quý Minh tiến đánh Lư Thị rồi hạ được Hoằng Nông, tiến đánh Đồng Quan và Thiểm Châu. Tướng Ngụy là Trương Thị Liên Đề không chống nổi, tử trận cùng 3.000 quân. Hai vạn quân Ngụy bị bắt, được Nguyên Cảnh cho thả hết.
Thiểm Thành bị mất khiến Đồng Quan bị mất theo. Quân Tống uy hiếp phía tây dữ dội. Hào kiệt người Hán ở Quan Trung cũng như người Khương (một trong Ngũ Hồ) hưởng ứng quy hàng. Cùng lúc đó, tướng Tống là Lưu Khang Tổ cũng hạ được Trương Xã rồi tiến đánh Hổ Lao.
Nhưng lúc đó tin bại trận của Vương Huyền Mô phía đông báo về Kiến Khang. Tống Văn Đế lại cho rằng cánh này bị thua nặng thì phía tây cũng không nên đơn độc vào sâu đất địch nên hạ lệnh lui quân. Các tướng Tống đành rút về Tương Dương. Phía tây Bắc Ngụy qua được nguy hiểm.
Lần thứ tư
Thái Vũ Đế thấy quân Tống rút lui, bèn khởi đại quân Nam tiến. Tướng Ngụy là Thác Bạt Nhân đánh Thọ Dương, hạ Huyền Hồ và Hạng Thành. Tống Văn Đế điều Lưu Khang Tổ cứu Thọ Dương. Quân Tống chỉ có 8 nghìn, đụng 8 vạn quân Ngụy ở Úy Vũ. Chiếm ưu thế quân số, Thác Bạt Nhân tiêu diệt toàn bộ cánh quân này, giết chết Khang Tổ.
Tướng giữ Thọ Dương của Tống là hoàng tử Lưu Thước cố thủ không đánh, quân Ngụy không hạ được.
Thái Vũ Đế đích thân cầm quân chủ lực đánh Bành Thành. Các vương tử Lưu Nghĩa Cung (em Tống Văn Đế) và Lưu Tuấn (con Văn Đế) cố thủ không ra, quân Ngụy không hạ được. Tháng 12 năm 450, Tống Văn Đế sai Tang Chất đi cứu Bành Thành. Chất chỉ có 1 vạn quân, đụng đại quân Ngụy, bị giết gần hết, chỉ còn 800 quân chạy vào Vu Thai.
Ngụy Thái Vũ Đế cho một cánh quân nhỏ vây Vu Thai mà cất đại quân Nam tiến tiếp. Rằm tháng chạp, quân Ngụy tới Qua Bộ, ông ra lệnh phá nhà dân làm bè, phao tin quân Ngụy muốn vượt Trường Giang vào Kiến Khang. Kinh thành nhà Tống rơi vào tình trạng khẩn cấp, phải điều động cả con em vương công ra trận. Nhưng đến ngày 2 tháng 1 năm 451, Thái Vũ Đế hạ lệnh lui quân, chỉ bắt theo dân Tống mang về.
Ngụy Thái Vũ Đế quay trở lại Vu Thai, đòi tướng Tống Tang Chất dâng rượu. Chất sai mang bình nước tiểu cho Vua Ngụy. Thái Vũ Đế nổi giận hạ lệnh đánh thành, không tiếc mạng quân sĩ cố đánh cho được. Sau đó Vua Ngụy lại gửi thư hăm dọa Tang Chất. Chất cũng cứng cỏi, gửi thư mắng lại, lại chép giải thưởng của triều đình Lưu Tống vào thư: :"Ai chém được Phật Ly (tức Thái Vũ Đế), phong hầu vạn hộ, thưởng 1 vạn tấm vải!"
Thái Vũ Đế càng tức giận, thúc quân đánh rát, nhưng hơn 1 tháng quân Ngụy hao tổn nhiều vẫn không hạ được thành. Lúc đó Bành Thành vẫn trong tay quân Tống, Thái Vũ Đế sợ quân địch hợp hai mặt đánh lại nên đành giải vây Vu Thai, rút về bắc.
Lúc quân Ngụy rút về qua Bành Thành, hoàng thân Lưu Nghĩa Cung không dám ra đánh. Sau đó vua Tống phát lệnh truy kích tới, quân Ngụy bèn giết hơn 1 vạn dân Tống bắt theo về vì họ đi chậm rồi toàn quân rút mau.
Chiến tranh Tống - Ngụy kết thúc năm 451. Cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề. Quân dân Tống bị chết không thể đếm hết, người ngựa của Bắc Ngụy cũng tổn thất một nửa; trên thực tế cả Ngụy và Tống đều là người thua.
Chính sách
Thời kỳ đầu trong lịch sử Bắc Ngụy, nhà nước này vẫn tiếp tục thực hiện một loạt các truyền thống từ lịch sử ban đầu của mình như là bộ lạc Tiên Ti, và một số trong số này là bất thường, theo quan điểm Trung Hoa truyền thống:
- Các quan lại không nhận lương, mà trưng thu những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống của họ trực tiếp từ những người dân do họ quản lý. Theo tiến trình phát triển của đế quốc, điều này dường như là yếu tố chính góp phần vào sự tha hóa của các quan chức. Vì thế chỉ sau hơn 100 năm kể từ khi ra đời, nhà nước này đã phải cung cấp lương bổng cho các quan lại.
- Các hoàng hậu không được chỉ định theo sự yêu mến của hoàng đế hay đẳng cấp khi sinh ra, mà các ứng viên được đưa ra xem xét trong một nghi lễ, theo đó họ phải đích thân rèn các bức tượng vàng, như là cách thức của ân huệ thần thánh. Chỉ có bà vợ nào thành công trong việc rèn tượng vàng mới có thể trở thành hoàng hậu.
- Tất cả đàn ông, không phụ thuộc vào sắc tộc, phải tết tóc thành một bím tóc và sau đó cuộn lại để đặt trên đỉnh đầu, và có một chiếc mũ đội trùm lên.
- Khi thái tử được chỉ định, mẹ của ông ta, nếu còn sống, bị buộc phải tự tử (Một số sử gia không tin rằng đây là tập tục truyền thống của người Thác Bạt, mà tin rằng nó là truyền thống được Đạo Vũ Đế đặt ra, dựa trên việc Hán Vũ Đế cho tử hình người thiếp yêu của ông là Câu Dực Phu nhân Triệu Tiệp dư, mẹ đẻ của người con trai bé nhất của ông là Lưu Phất Lăng (tức Hán Chiêu Đế sau này), trước khi chỉ định Phất Lăng làm hoàng thái tử nhằm tránh sự can thiệp của ngoại thích vào công việc triều chính.
- Do các hoàng đế không còn mẹ đẻ, vì thế khi lên ngôi, họ thông thường sẽ phong tặng cho bảo mẫu của mình tước hiệu "Bảo thái hậu" (保太后). Do vậy, Bắc Ngụy có 3 dạng hoàng thái hậu, một là mẹ đẻ của hoàng đế (truy phong), hai là bảo mẫu của hoàng đế và ba là (cựu) hoàng hậu của hoàng đế tiền nhiệm.
Khi quá trình Hán hóa của nhà nước Bắc Ngụy tăng lên thì các truyền thống tập tục này dần dần bị bãi bỏ.
Luật pháp
Trong thời kỳ đầu, Đạo Vũ Đế dựa vào nguyên tắc giản dị để tiến hành sửa chữa pháp luật cũ ở Trung Nguyên. Ba mươi năm, sau Thái Vũ Đế sai Thôi Hạo là thủ lĩnh sĩ tộc người Hán tiến hành chỉnh lý pháp luật gồm 391 điều, trong đó những dấu vết cũ của người Tiên Ti không còn nhiều nữa. Năm 477 Hiếu Văn Đế chủ trì việc chỉnh lý pháp luật nhiều lần cùng các đại thần thảo luận việc chỉnh lý pháp luật, đích thân chấp bút để soạn thảo pháp luật. Năm 491, Bắc Ngụy ban hành bộ luật có 20 chương, 832 điều, đồng thời ban hành Ngụy lệnh.
Tổ chức nông dân
- Chế độ tam trưởng chế. Năm gia đình tạo thành một lân có lân trưởng đứng đầu
- Năm lân tạo thành một lý có một lý trưởng đứng đầu.
- Năm lý tạo thành một Đảng có một Đảng trưởng đứng đầu.
Ở mỗi cấp này, những người đứng đầu đều do chính quyền trung ương chỉ định. Nhờ đó nhà nước quản lý được số hộ toàn quốc, trực tiếp quản lý thuế đến từng hộ. Các lân trưởng, lý trưởng, Đảng trưởng được hưởng đặc quyền không phải đi phu, chỉ lo việc lập hộ tịch, thu thuế và khuyến khích làm ruộng, chăn tằm trong địa phận. Tam trưởng chế xoá bỏ chế độ tôn chủ đốc bộ trước đó, ảnh hưởng đến quyền lợi của địa chủ người Tiên Ti và người Hán.
Chế độ quân điền
Nhằm đảm bảo cho nhà nước có thể khai hoang và cải tạo các khu vực đất đai khô cằn, hoang vu, cằn cỗi, Bắc Ngụy đã phát triển hệ thống này bằng cách chia nhỏ đất đai theo số lượng đàn ông của từng độ tuổi để gieo trồng trên đất ấy, đây là chế độ quân điền. Nhà Tùy và nhà Đường sau này đã phục hồi lại chế độ quân điền này trong thế kỷ 7 vào năm 398 và bắt đầu áp dụng phong tục và luật lệ của người Hán (quản lý hành chính, cấu trúc bộ máy nhà nước, nghi lễ nhà nước, hệ thống tiêu chuẩn đo lường cân nặng, lịch pháp, thành lập trường học Nho giáo, buộc người Thác Bạt để tóc và đội mũ như người Hán.
Năm sau, Đạo Vũ Đế tổ chức lại chính quyền, mở rộng bộ máy chính quyền, thu thập các loại sách vở trong toàn quốc và chở về Bình Thành. Những người sử dụng đất đều được đăng ký (hộ) và các khu đất xung quanh kinh thành được phân chia cho nông dân tự canh canh tác. Phần lớn diện tích đất nông nghiệp ở miền bắc được dùng làm đồn điền quân sự, số khác được sử dụng làm mục trường chăn thả gia súc.
Bắc Ngụy mở rộng lãnh thổ, lấy Hà Tây làm mục trường rộng lớn để nuôi ngựa. Ngụy thư có ghi: "Hà Tây có nước có cỏ tốt bèn lấy làm nơi chăn thả súc vật, sinh sản nhanh chóng, ngựa có đến 2 triệu con".
Đến Lạc Dương
Năm 493, Hiếu Văn Đế trên danh nghĩa là đánh miền nam đã cho mang đến Hà Dương (Hà Nam) 2 triệu con ngựa, tổ chức quân túc vệ 15 vạn thường trú tại Lạc Dương, dời hộ tịch toàn bộ người vùng Đại tới Lạc Dương. Hành động này không phải chỉ là chuỵên dời đổi kinh đô mà còn có ý nghĩa chuyển đổi văn hóa quan trọng, vì Đại Đồng là đất nằm phía bắc dãy Hồng Sơn, lọt vào vùng đất chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa du mục, còn Lạc Dương ở vào trung tâm Thần Châu thời cổ, là kinh đô Đông Chu, Đông Hán, Ngụy, Tấn. Lạc Dương phía đông có Thánh Cao, phía tây có Hào Sơn, Dẫn Trì, sau lưng là Hoàng Hà, quay mặt sang các sông Y, sông Lạc. Dời kinh đô đến đây là để hiển thị Bắc Ngụy là chính quyền chính thống của Trung Quốc và có lợi cho việc hấp thụ mau lẹ văn hóa Hán tộc.
Chính ở cố đô Lạc Dương này, Hiếu Văn Đế tiến hành cải cách các lãnh vực kinh tế, kiến trúc thượng tầng văn hóa. Ông hạ lệnh cấm dùng chữ Hồ, ăn mặc theo lối Hồ (Hồ là khái niệm chỉ chung những dân tộc ít người phương bắc Trung Quốc), buộc nhân dân phải dùng rộng rãi tiếng Hán. Hễ bất cứ quan viên người Tiên Ti nào dưới 30 tuổi mà nói tiếng Tiên Ti trong triều đình đều bị gián chức trừ quan.
Kinh thành Lạc Dương đầu đời Bắc triều bị Ngũ Hồ tàn phá, chỉ còn có một trăm nhà, năm 494 được xây dựng lại. Vòng thành có 12 cửa, ở giữa là cung điện. Ở phía nam là khu hành chính. Trong thành và ngoài thành dân số rất đông đúc. phía tây là một chợ lớn, phía đông là một chợ nhỏ bán ngũ cốc và súc vật, phía nam là một chợ bán cá và những sản phẩm nhập khẩu. Các thương nhân nước ngoài tới ở khu riêng gọi là Tứ Di quán. Đô thành Lạc Dương có đến 10 vạn hộ, số dân khoảng trên 50 vạn người. Lạc Dương trở thành trung tâm thương mại thịnh vượng trao đổi hàng hóa với Trung Á và Tây Á.
Hán hóa
Tôn giáo
Khi nhà nước Bắc Ngụy phát triển, các hoàng đế dần dà ưa thích các thể chế của người Hán và các quân sư cũng gia tăng. Thôi Hạo (381-450), một quân sư của triều đình Bắc Ngụy tại Bình Thành đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này.
Chính sách ưu đãi sĩ tộc của nhà Bắc Ngụy thực chất chính là sự kế tục đường lối của một số quốc gia Ngũ Hồ như Hán Triệu, Hậu Triệu, Tiền Tần, Tiền Yên, Hậu Tần... thời Ngũ Hồ thập lục quốc. Chính vì vậy, trong các cuộc khởi nghĩa chống đối của nông dân sau này, các sĩ tộc Hán không hề tham gia, thấy xảy ra sự biến Hà Âm, liền chạy sang phía nhà Lương. Mùa đông năm 528, Lương Vũ Đế lập Nguyên Hạo làm Ngụy vương, dự định đưa về làm vua Ngụy, cho Nguyên Hạo mượn quân. Vũ Đế phái trực các tướng quân Trần Khánh Chi đem 7.000 quân đưa Nguyên Hạo về nước. Mặc dù Trần Khánh Chi chỉ mang theo ít quân song liên tiếp giành thắng lợi, sau khi xâm nhập lãnh thổ Bắc Ngụy đã đánh chiếm Truất Thành, biến nơi đây thành bàn đạp tiến quân. Hiếu Trang Đế phái Thượng Đảng vương Nguyên Thiên Mục đem quân chủ lực đánh dẹp Hình Cảo lúc đó cát cứ Sơn Đông xưng Hán vương, làm cho hậu phương Bắc Ngụy trống rỗng. Nguyên Hạo xua quân chiếm Huỳnh Thành, Đại Lương , mặc dù tướng Khâu Đại Thiên có 7 vạn quân giữ thành song không chống nổi sức tấn công mãnh liệt của Nguyên Hạo và đầu hàng. Đến mùa xuân năm 529, sau khi Trần Khánh Chi chiếm được Tuy Dương, Nguyên Hạo tuyên bố mình là vua Bắc Ngụy, đổi niên hiệu Hiếu Cơ.
Nhà Bắc Ngụy vội vàng phái đại đô đốc Đông Nam đạo Dương Dục trấn giữ Vinh Dương, thượng thư bộc xạ Nhĩ Chu Thế Long trấn giữ Hổ Lao, Tỵ Thủy thì bị lính huyện ở đây giết chết. Quân Trần Khánh Chi thất bại phải rút về nước, chạy đến sông Tung Cao, Khánh Chi phải cạo râu tóc giả làm hòa thượng mới thoát về đến nước Lương.
Sang năm 530, các thủ hạ của Nhĩ Chu Vinh lần lượt dẹp được các trấn làm phản từ thời Nguyên Hủ. Tiêu Bảo Dần cũng bị bắt sống ở Bình Thành. Vinh đã tái thống nhất phần lớn Bắc Ngụy như thời hòa bình trước đây. Công lao và quyền lực của Nhĩ Chu Vinh rất cao. Ông chi phối mọi công việc triều chính, vị Hoàng đế mới lập trên thực tế không có quyền hành thực sự và phần lớn các quyết sách đều qua tay Nhĩ Chu Vinh. Hiếu Trang Đế không cam tâm bị cướp quyền, bèn lập mưu trừ khử.
Tháng 9 năm 530, Nhĩ Chu Vinh vào triều, bị Hiếu Trang Đế sai mấy thân tín phục binh chém chết.
Cao Hoan diệt họ Nhĩ Chu
:Xem chi tiết: Cao Hoan.
Bích họa và các bức tượng nhỏ tại [[hang đá Vân Cương, thời Bắc Ngụy, thế kỷ 5-6.]] Cái chết của Nhĩ Chu Vinh đã dẫn tới nội chiến, ban đầu là giữa bè Đảng Nhĩ Chu Vinh với Hiếu Trang Đế. Cháu họ Vinh là Nhĩ Chu Triệu, Nhĩ Chu Thế Long lập thái thú Thái Nguyên là Trường Quảng vương Nguyên Diệp làm vua mới ở Tấn Dương, tháng 11 năm 530 mang quân tấn công Lạc Dương. Khi biết tin quân Nhĩ Chu khởi hành, Hiếu Trang Đế đã sai người mang thư tới cầu viện thủ lĩnh Hạt Đậu Lăng Bộ Phiên tới đánh bộ Tú Dung của họ Nhĩ Chu. Quân Bộ Phiên chưa kịp tới thì tháng 12, quân Nhĩ Chu hạ thành Lạc Dương, bắt Hiếu Trang Đế giết chết. Khi đó Hiếu Trang Đế mới 24 tuổi.
Quân Bộ Phiên đánh Hà Tây, Nhĩ Chu Triệu không chống nổi, bèn cầu cứu thủ hạ cũ của Nhĩ Chu Vinh là Cao Hoan đang làm thứ sử Tấn Châu. Cao Hoan hợp binh với họ Nhĩ Chu giết chết Bộ Phiên, được sự tín nhiệm rất cao của họ Nhĩ Chu.
Vài chục vạn quân của Cát Vinh trước đây được Nhĩ Chu Vinh cho giải tán, chạy về ngụ ở Tinh Châu, Tứ Châu, bị người Khiết Hồ khinh rẻ ngược đãi, thành ra phát sinh biến loạn trong vùng. Nhĩ Chu Triệu lo lắng, bèn hỏi kế Cao Hoan. Cao Hoan xin đi chinh phạt, rồi nhân đó li khai họ Nhĩ Chu, chiếm đóng Ký Châu.
Sang tháng 2 năm 531, Nhĩ Chu Triệu lại phế Nguyên Diệp mà lập cháu Hiếu Văn Đế là Nguyên Cung làm vua, tức là Tiết Mẫn Đế.
Cao Hoan muốn mộ binh đánh họ Nhĩ Chu, bèn phao ra tin rằng họ Nhĩ Chu muốn mang lưu dân sáu trấn cấp cho người Khiết Hồ làm tôi tớ. Những người đó rất hoảng sợ, đều xin theo Cao Hoan phản lại họ Nhĩ Chu. Nhân lúc nhuệ khí binh sĩ lên cao, tháng 6 năm 531, Cao Hoan khởi binh đánh họ Nhĩ Chu ở Tín Đô, lập thái thú Bột Hải là Nguyên Lãng làm vua, tức là Ngụy An Định Vương.
Lực lượng họ Nhĩ Chu đông và mạnh hơn Cao Hoan nhiều nhưng mất đoàn kết. Nhĩ Chu Thế Long làm thượng thư lệnh ở Lạc Dương, khống chế Tiết Mẫn Đế; Nhĩ Chu Triệu chiếm cứ Tấn Dương; Nhĩ Chu Thiên Quang làm thứ sử Ung Châu, chiếm cứ Quan Lũng; Nhĩ Chu Trọng Viễn trấn thủ Đại Lương, địa bàn có Từ Châu và Duyện Châu; 4 người không ai theo ai.
Cao Hoan dấy binh, Trọng Viễn và Triệu ra quân đánh - Trọng Viễn đóng ở Bình Dương, còn Triệu đóng ở Tỉnh Hình. Cao Hoan tung tin li gián rằng: :Anh em Trọng Viễn và Thế Long muốn diệt Nhĩ Chu Triệu :Nhĩ Chu Triệu đồng mưu với Cao Hoan để giết anh em Trọng Viễn.
Họ Nhĩ Chu nghi ngờ lẫn nhau. Trọng Viễn không đánh mà rút quân. Cao Hoan thừa cơ Nhĩ Chu Triệu cô thế hoang mang, bèn tiến quân đánh bại Triệu, mang quân vây Nghiệp Thành. Triệu bỏ chạy về Tấn Dương. Tháng 1 năm 532, ông hạ được Nghiệp Thành.
Họ Nhĩ Chu lúc nguy cấp lại liên minh chống Cao Hoan. Tháng 3 năm 532, Nhĩ Chu Thiên Quang từ Trường An, Nhĩ Chu Triệu từ Tấn Dương, Nhĩ Chu Độ Tân từ Lạc Dương, Nhĩ Chu Trọng Viễn từ Đông Quận cùng hội quân ở gần Nghiệp Thành, có tất cả 20 vạn quân. Nhưng trong nội bộ quân Nhĩ Chu cũng vẫn rạn nứt, tướng Hạ Bạt Thắng chưa đánh đã sang hàng Cao Hoan. Cao Hoan chỉ có 3 vạn quân bộ và 3.000 quân kỵ. Ông sai buộc lừa ngựa chắn hết đường về khiến quân sĩ chỉ còn đường tử chiến, đại phá quân Nhĩ Chu, giành chiến thắng quyết định.
Sau khi thua trận, tháng 4 năm 532, một tướng đồng mưu với Hạ Bạt Thắng bên quân Nhĩ Chu là Hộc Tư Thung về Lạc Dương giết chết Thế Long, Ngạn Bá, bắt sống Độ Tân và Thiên Quang giao cho Cao Hoan. Trọng Viễn chạy về nam đầu hàng Lương Vũ Đế. Một thuộc tướng khác của họ Nhĩ Chu là Hạ Bạt Nhạc giết Nhĩ Chu Hiển Thọ đang trấn giữ Trường An để đầu hàng Cao Hoan.
Cao Hoan tiến vào Lạc Dương, giết Tiết Mẫn Đế do họ Nhĩ Chu lập nên và giết cả An Định vương Nguyên Lãng do mình lập, dựng Nguyên Tu làm vua, tức là Ngụy Hiếu Vũ Đế.
Cao Hoan làm đại thừa tướng, cầm quyền chính nhà Bắc Ngụy. Tháng 7 năm 532, ông mang quân đánh Nhĩ Chu Triệu ở Tấn Dương. Triệu bỏ Tấn Dương chạy về Tú Dung. Cuối năm, ông điều Đậu Thái đánh úp Tú Dung, tháng 1 năm 533 thì phá được Tú Dung. Nhĩ Chu Triệu bỏ chạy rồi tự tử. Họ Nhĩ Chu bị tiêu diệt.
Đông Tây hai vua
:Xem chi tiết: Vũ Văn Thái.
Diệt được họ Nhĩ Chu, Cao Hoan tính đến thủ hạ còn sót lại của họ này là Hạ Bạt Nhạc ở Quan Trung. Dù Nhạc đã hàng nhưng không có ý thần phục. Cao Hoan muốn điều Nhạc lên Tinh Châu, Nhạc không muốn rời Quan Trung nên từ chối.
Trong khi đó chính Ngụy Hiếu Vũ Đế Nguyên Tu cũng không muốn bị Cao Hoan khống chế nên muốn dựa vào anh em họ Hạ Bạt, cho Hạ Bạt Thắng làm thứ sử Kinh Châu.
Cao Hoan quyết tâm giải quyết họ Hạ Bạt. Năm 534, ông sai thứ sử Tần Châu là Hầu Mạc Trần Duyệt nhân lúc bất ngờ giết chết Hạ Bạt Nhạc trong tiệc. Thủ hạ Nhạc bèn tôn thuộc tướng của Nhạc là Vũ Văn Thái lên thay.
Vũ Văn Thái lấy cớ báo thù cho Nhạc, đánh thẳng vào Thượng Khuê. Hầu Mạc Trần Duyệt thua trận tự sát. Hiếu Vũ Đế bèn phong cho Thái làm đại đô đốc Quan Tây.
Mùa hè năm 534, Hiếu Vũ Đế giả tiếng đi đánh Lương Vũ Đế, định điều quân đánh vào Tấn Dương là căn cứ mới của Cao Hoan. Mưu ấy không lừa được Cao Hoan, ông cũng dâng biểu nói sẽ đi cùng vua Ngụy đánh Lương. Hai bên thư từ qua lại, cuối cùng đổ lỗi cho nhau, thành ra càng thêm oán giận.
Cuối cùng Hiếu Vũ Đế cũng dời Lạc Dương, nhưng chủ ý sang Quan Trung với tập đoàn quân phiệt Quan Lũng của Vũ Văn Thái chứ không phải đánh Lương. Cao Hoan mang quân truy sát. Tháng 7 năm đó, Hiếu Vũ Đế chạy sang phía tây, thủ hạ trốn hết. Tháng 8, Vũ Văn Thái đón Hiếu Vũ Đế vào Quan Trung. Gặp được bộ hạ Vũ Văn Thái ra tiếp đón, Hiếu Vũ Đế bèn nói: :"Nước sông Hoàng Hà thì chảy về đông, còn ta thì đi về tây, Sau nếu có về được Lạc Dương, toàn bộ đều là công lao của các vị!"
Hạ Bạt Thắng ở Kinh Châu muốn hưởng ứng Hiếu Vũ Đế, bị thủ hạ Cao Hoan là Hầu Cảnh đánh bại, phải chạy về nam hàng Lương Vũ Đế.
Cao Hoan không bắt được Nguyên Tu, bèn lập Nguyên Thiện Kiến làm vua mới, tức là Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế. Thấy Lạc Dương gần họ Vũ Văn, ông thiên đô về Nghiệp Thành.
Nguyên Tu ở với họ Vũ Văn, nhưng Vũ Văn Thái là kẻ có hùng tài đại lược nên cực kỳ dè chừng. Bởi Nguyên Tu vốn chẳng phải là kẻ cam chịu nghe lời người khác, đến kẻ kiêu hùng như Cao Hoan mà còn dám phản kháng, huống hồ là kẻ thực lực chẳng thể bằng được Cao Hoan như Vũ Văn Thái. Bởi thế Vũ Văn Thái tuy trước mặt tôn làm đế, nhưng một mình chiếm toàn bộ quyền lực. Lâu cũng không coi vào mắt được, chỉ qua được bốn tháng Vũ Văn Thái bèn phái người dùng rượu độc giết chết Nguyên Tu. Vì Nguyên Tu rời bỏ sang tây nên còn được gọi là Xuất Đế. Thái lập Nam Dương vương Nguyên Bảo Cự lên ngôi, tức Tây Ngụy Văn Đế.
Cả Cao Hoan và Vũ Văn Thái tuyên lập những người thừa kế kình địch lên ngai vàng Bắc Ngụy, dẫn tới sự chia cắt lãnh thổ Bắc Ngụy thành hai nhà nước từ khoảng năm 534-535 thành Đông Ngụy và Tây Ngụy.
Sụp đổ
Cả hai triều đại Đông Ngụy lẫn Tây Ngụy đều chỉ là con rối trong tay các quyền thần từ khi thành lập và không tồn tại lâu. Năm 550, con trai Cao Hoan là Cao Dương buộc Hiếu Tĩnh Đế của Đông Ngụy phải nhường ngôi cho mình, kết thúc nhà Đông Ngụy và thành lập Bắc Tề. Tương tự, năm 556, cháu Vũ Văn Thái là Vũ Văn Hộ cũng buộc Cung Đế của Tây Ngụy phải nhường ngôi cho con trai Vũ Văn Thái là Vũ Văn Giác, kết thúc Tây Ngụy và lập ra Bắc Chu, chấm dứt hoàn toàn sự trị vì của các hậu duệ từ triều Bắc Ngụy.
Cái chết của vua cuối cùng trong tình trạng thống nhất của Bắc Ngụy là Hiếu Vũ Đế đầu năm 535 được xem là mốc kết thúc của nhà Bắc Ngụy. Nhà Bắc Ngụy tồn tại 149 năm, có tất cả 15 vua.
Bắc Ngụy chính là một trong các triều đại Trung Quốc xảy ra nhiều biến động và đau thương nhất trong cung đình: Triều đại này có nhiều vua yểu mệnh (qua đời khi chưa đầy 35 tuổi) và bị sát hại nhất (11/15 vua). Triều Bắc Ngụy đặt ra quy tắc "tử quý mẫu tử", tức là nếu con được lập làm thái tử thì người mẹ đẻ phải bị giết. Quy tắc tàn nhẫn này để tránh việc ngoại thích chuyên quyền, nhưng trớ trêu là triều Bắc Ngụy vẫn không tránh được việc có một số vị hoàng hậu, thái hậu khống chế triều chính. Sau hơn 100 năm, quy tắc này mới bị bãi bỏ vào khoảng năm 510, vào thời Bắc Ngụy Tuyên Vũ Đế. *Điều đáng chú ý là triều Bắc Ngụy có 1 vị vua bị mẹ nuôi sát hại (Hiến Văn Đế bị giết bởi Phùng thái hậu) và 1 vị vua bị chính mẹ ruột sát hại (Hiếu Minh Đế bị giết bởi Hồ thái hậu). Việc giết vua của Phùng thái hậu và Hồ thái hậu lại cũng đều xuất phát từ sự dâm loạn của 2 bà thái hậu này. Trong lịch sử Trung Quốc, họ là 2 trong số rất ít những vị thái hậu đã dám tư thông với nhân tình dù đã ở ngôi thái hậu, rồi sau đó vì nhân tình mà họ đã bất chấp tình nghĩa mà sát hại nhà vua.