Triết Học Phật Giáo: Thập Đại Tông Môn
Tác giả: GS. Vũ Thế Ngọc
Nxb: Hồng Đức
Kích thước: 16 x 24 cm
Số trang: 658
Năm xuất bản: 2024
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO: THẬP ĐẠI TÔNG MÔN
Tác giả: GS. Vũ Thế Ngọc
Sáu mươi năm trước khi bắt đầu học Phật cùng với các vị trưởng lão ngày nay thì chúng tôi thường chỉ được học về các tông môn Phật giáo một cách rất đại lược. Thí dụ như về Tịnh Độ Tông được dạy là “tông môn chủ yếu tụng niệm danh hiệu Phật A-di-đà và quán tưởng Cực-lạc khi chết sẽ được siêu thăng về Tây phương Cực lạc”. Quả thật đó là đường lối đang được tin đồ Tịnh Độ đương thời hành trì, tuy nhiên lời dạy đơn giản này chưa phải là tất cả những nét vi diệu của giáo pháp Tịnh Độ. Cho nên từ đó tôi đã có tâm nguyện sẽ viết một quyển luận đầy đủ hơn, vừa giới thiệu các tông môn vừa cung cấp kiến thức triết lý của từng tông môn dành cho những người học Phật muốn đi sâu hơn vào nội dung tư tưởng.
Đến đầu thập niên 1960’s tôi theo học triết học ở đại học văn khoa Sài Gòn và Phật học ở đại học Vạn Hạnh. Học thêm Phạm ngữ tôi cũng bắt đầu làm quen với tri thức giới ngoài truyền thống Phật học Trung Hoa vốn luôn luôn là cốt lõi và giới hạn của Phật giáo Việt Nam. Trong những tác phẩm nghiên cứu Phật học nổi tiếng đương thời, tôi được đọc hai tác phẩm căn bản về tư tưởng các tông môn Phật giáo là The Essentials of Buddhist Philosophy (Tinh Hoa Triết Học Phật Giáo) của giáo sư Junjiro Takakusu và Buddhism: Its Essence and Development (Tinh Hoa và Sự Phát Triển Phật Giáo) của giáo sư Edward Conze. Đây là hai quyển sách quen thuộc của hai tác giả Phật học danh tiếng của thế kỷ trước. Cho nên sau này khi dạy cho lớp học triết học đối chiếu ở Ấn Độ ba mươi năm sau, tôi cũng tiếp tục dùng lại hai tác phẩm này. Tuy nhiên cả hai sách cũng còn những khoảng trống cần bổ khuyết mà trong thời gian trước tôi đã không có dịp thực hiện. Thứ nhất là sách của giáo sư Junjiro Takakusu vốn là vị biên tập đại tạng kinh danh tiếng Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taishō). Sách của ông là một cuốn sách ngắn gọn nhưng giới thiệu đầy đủ về thập đại tông môn Phật giáo Trung Hoa. Tuy nhiên vì muốn giới thiệu thêm về Phật giáo Nhật Bản, một truyền thống Phật học lớn mà đương thời ít được biết đến sau hai trung tâm Phật học Ấn Độ và Trung Hoa, cho nên tổ chức sách dù sâu sắc nhưng rất lúng túng giữa các tông môn Trung Hoa và Nhật Bản nên khiến nhiều độc giả khó theo dõi. Còn quyển thứ hai chuyên phân tích triết học. Giáo sư Edward Conze là chuyên gia Phật giáo Ấn Độ. Sách của ông nhằm mục đích giới thiệu Phật giáo cho người Tây phương nên cũng không nói đầy đủ về các tông môn Đại thừa phát triển ở Á Đông. Hai bản dịch Việt ngữ gần đây vẫn được tái bản cho thấy nội dung đề tài tiếp tục là một nhu cầu được độc giả chú ý quan tâm, nhưng Việt Nam dường như chưa có sách khác thay thế.
Là hậu bối trưởng thành qua các nghiên cứu của hai giáo sư và các nhà nghiên cứu quốc tế đương đại. Hôm nay sau gần hai năm với cơn bệnh trầm kha tôi mới có dịp cầm bút viết Triết Học Phật Giáo: Thập Đại Tông Môn với hy vọng có thể bổ khuyết vài khoảng trống của hai tác phẩm mà mình từng yêu thích. Tôi thiết nghĩ đây chính là lòng thành kính nhất để tỏ lộ lời cảm tạ dành cho các bậc tiền bối. Đó là tiếp tục phát triển con đường nghiên cứu mà họ khai phá. Hơn nữa, sau tai nạn của người bào huynh cuối cùng mà không được nhìn mặt, tôi cũng ngã bệnh. Từ một bệnh xá xa lạ, nhờ phương tiện internet trên điện thoại tôi được đọc nhiều bài viết trên các trang mạng Phật học Việt ngữ. Tuy nhiên về giáo lý các tông môn vẫn thiếu các nghiên cứu có thể hướng dẫn người học đi sâu vào kho tàng trí tuệ Phật Pháp. Cho nên tôi càng cố gắng hoàn tất tác phẩm này trong tình trạng già bệnh và không được ở gần các bậc thiện tri thức. Chỉ hy vọng những nét đan thanh trong sách này tuy sơ lược nhưng sẽ là một phần tư lương giúp người học Phật vừa hiểu được lịch sử các tông môn vừa tiếp nhận được các tư tưởng triết lý cơ sở để có thể tiếp tục đi vào những nghiên cứu chuyên sâu của các học giả thế giới hiện đại.
Triết Học Phật giáo tiếp tục nỗ lực của một cá nhân cố gắng đưa học thuật vào truyền thống chỉ quen thuộc với đức tin của người học Phật. Cho nên các sách luận của tôi đều viết theo tinh thần giáo án đại học hơn là loại sách quần chúng nên có thể xa lạ với một số độc giả - như bộ sách trong Tùng Thư Long Thọ và Tính Không đã xuất bản trong mười năm qua thường chỉ được một số thiện trí thức tán thưởng đón nhận nhưng chưa được phổ biến đúng mức trong đại chúng. Trong hoàn cảnh giới hạn của cuộc sống cá nhân hiện nay, chắc chắn độc giả sẽ tìm thấy nhiều khuyết điểm trong sách này - Từ lỗi chính tả các ngôn ngữ Hán Phạm đến sự trùng lấp ý tưởng của nhiều chương. Là một sách luận có tham vọng vừa là sách phổ thông vừa có tính học thuật, nên dù cố gắng nhưng cuối cùng sách cũng chỉ là tác phẩm của một lão nhân đã qua lớp tuổi cổ lai hi hiện sống và làm việc cô độc ở một nơi xa vắng, không còn được gần gũi các thiện tri thức như thời tuổi trẻ. Tuy ước nguyện thì khả hữu nhưng khả năng đơn độc của một người thì hạn chế. Người viết chỉ mong độc giả thấy được thiện chí của người viết để hỉ xả cho các bất cập. Chúng ta cần chia sẻ rằng trí tuệ chính là điều Đức Phật đã khẳng định là pháp môn tối thắng đưa đến giải thoát. Cổ nhân thường nói ý tại ngôn ngoại, những gì còn lại chỉ ví như phương tiện gió mây.
Trở về trú xứ Bát Bất Đường
San Jose cuối đông 2022 đầu xuân 2023
Vũ Thế Ngọc
👁️
245 | 🔗 | 💖 | ✨ | 🌍 | ⌚
VNĐ: 270,000
Triết Học Phật Giáo: Thập Đại Tông Môn Tác giả: GS. Vũ Thế Ngọc Nxb: Hồng Đức Kích thước: 16 x 24 cm Số trang: 658 Năm xuất bản: 2024 TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO: THẬP
nhỏ|Tượng minh hoạ [[Đức Phật Chuyển Pháp Luân tại Bảo tàng khảo cổ học Sarnath của Ấn Độ vào thế kỷ 3-5]] **Phật giáo** (tiếng Hán: 佛教 - tiếng Phạn: बुद्ध धर्म - IAST: _Buddha
nhỏ|phải|Một ấn phẩm Phật giáo tại Lào, có chú thích bằng tiếng Anh **Phật giáo hiện đại** (_Buddhist modernism_ hay _Neo-Buddhism_) là những phong trào Phật giáo tân thời dựa trên sự diễn giải lại
**Triết học phương Đông** hay **triết học** **châu Á** bao gồm các triết học khác nhau bắt nguồn từ Đông và Nam Á bao gồm triết học Trung Quốc, triết học Nhật Bản và triết
nhỏ|Bức ảnh này trích trong một chương về [[Ấn Độ trong cuốn _Câu chuyện về các quốc gia của Hutchison_, mô tả Ajatashatru đến thăm Đức Phật để giác ngộ tội lỗi của mình.]] **Phật
nhỏ|265x265px|Bức tượng _[[Người suy tư_, Auguste Rodin|thế=]] Thuật ngữ "**Triết học phương Tây**" muốn đề cập đến các tư tưởng và những tác phẩm triết học của thế giới phương Tây. Về mặt lịch sử,
nhỏ|348x348px|Tượng _[[Người suy tư_ của Auguste Rodin là một biểu tượng của tư tưởng triết lý.]] **Triết học** (; ) là một ngành nghiên cứu có hệ thống về những vấn đề cơ bản và
nhỏ|phải|Tượng Phật ở [[chùa Long Sơn (Nha Trang)|chùa Long Sơn Nha Trang, dựng năm 1963. Pho tượng này có đặc điểm là khuôn mặt của Đức Phật được tạc theo nét mặt người Việt]] **Phật
Đạo Phật có một lịch sử phát triển rất thăng trầm trong suốt hơn 2.500 năm; lan tỏa từ Ấn Độ ra khắp nơi trên thế giới. Do đó, việc hình thành các bộ phái
Theo một số tài liệu nghiên cứu gần đây thì giữa Thế giới Phật giáo và nền văn minh Phương Tây đã có những cuộc gặp gỡ cách hàng ngàn năm. Thế nhưng chỉ sau
Tượng [[Thích-ca Mâu-ni tu khổ hạnh theo phong cách Phật giáo Hy Lạp hóa, khoảng thế kỷ thứ 2–3, Gandhara (nay thuộc miền đông Afghanistan), Bảo tàng Lahore, Pakistan.]] **Phật giáo Nguyên thủy**, còn gọi
**Kinh điển Phật giáo sơ kỳ** (thuật ngữ tiếng Anh: _Early Buddhist texts_ - **EBT**), hay **Kinh văn Phật giáo sơ kỳ**, là một khái niệm học thuật để chỉ hệ thống các kinh văn
nhỏ|phải|Kiến trúc lầu chuông ở [[Tu viện Vĩnh Nghiêm tại Quận 12]] nhỏ|phải|[[Chùa Huê Nghiêm ở Thủ Đức]] nhỏ|phải|Chùa Pisesaram ở Trà Vinh **Kiến trúc Phật giáo** (_Buddhist architecture_) được hình thành, phát triển ở
**Động vật trong Phật giáo** chỉ về quan niệm của Phật giáo về các loài động vật, trong đó có lý thuyết về bảo vệ quyền của động vật thông qua quan niệm "_Chúng sinh
**Thiên Thai tông** (zh. _tiāntāi-zōng_ 天台宗, ja. _tendai-shū_) là một tông phái Phật giáo Trung Quốc do Trí Di (538-597) sáng lập. Giáo pháp của tông phái này dựa trên kinh _Diệu pháp liên hoa_,
**Duy thức tông** (zh. 唯識宗, sa. _vijñaptimātravādin_, _yogācārin_, _cittamātravādin_) là tên gọi tại Đông Nam Á của một trường phái Phật giáo. Tại Ấn Độ và Tây Tạng, tông này được gọi là Thức tông,
**Lâm Tế tông** (zh. _línjì-zōng/lin-chi tsung_ 臨濟宗, ja. _rinzai-shū_) là một dòng thiền được liệt vào Ngũ gia thất tông—tức là Thiền chính phái—do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền sáng lập. Đây là tông
**Triết học khoa học** là một nhánh của triết học quan tâm đến nền tảng, phương pháp và các hậu quả của khoa học. Các câu hỏi trung tâm của môn học này bao gồm
**Phật giáo Trung Hoa** (), còn gọi là **Phật giáo Trung Quốc**, hay chính xác hơn là **Phật giáo Hán truyền** (tiếng Trung giản thể :汉传佛教; tiếng Trung phồn thể :漢傳佛教; bính âm: _Hànchuán Fójiào_),
Nhật Bản là quốc gia có số lượng Phật tử chiếm 34,9% dân số, có khoảng 377,000 tăng sĩ (2014). Có ngôi chùa gỗ cổ nhất thế giới Hōryūji (Pháp Long Tự). nhỏ|Chùa [[Yakushiji ở
thumb|[[A-di-đà và hai Bồ Tát Quán Thế Âm (phải) và Đại Thế Chí (trái)|262x262px]] **Tịnh độ tông** hay **Tịnh thổ tông** (zh. _jìngtǔ-zōng_ 淨土宗, ja. _jōdo-shū_), có khi được gọi là **Liên tông** (zh. 蓮宗),
## Thời sơ khai # Phật Thích-ca Mâu-ni (sa. _śākyamuni_) Mười đại đệ tử # Xá-lợi-phất (sa. _śāriputra_) # Mục-kiền-liên (sa. _maudgalāyana_) # Ma-ha-ca-diếp (sa. _mahākāśyapa_) # A-nậu-lâu-đà (sa. _aniruddha_) # Tu-bồ-đề (sa. _subhūti_) #
thumb|[[Cỗ máy Antikythera|Máy Antikythera là một chiếc máy tính analog trong khoảng thời gian từ 150TCN đến 100TCN được thiết kế để tính toán vị trí của các vật thể thiên văn]] **Thiên văn học
**Đạo giáo** (tiếng Trung: 道教) (_Đạo_ nghĩa là con đường, đường đi, _giáo_ là sự dạy dỗ) hay gọi là _Tiên Đạo_, là một nhánh triết học và tôn giáo của Trung Quốc, được xem
**Nhà Tống** là hoàng triều cai trị Trung Quốc từ năm 960 đến năm 1279. Triều đại này được sáng lập bởi Tống Thái Tổ sau khi ông soán ngôi Hoàng đế Hậu Chu rồi
**Long Thụ**, còn gọi là **Long Thọ** (zh. 龍樹; sa. _nāgārjuna_ नागार्जुन; bo. _klu sgrub_ ཀླུ་སྒྲུབ་), dịch âm là **Na-già-át-thụ-na** (zh. 那伽閼樹那), thế kỷ 1–2, là một trong những luận sư vĩ đại nhất của
Tranh vẽ của Nhật Bản mô tả [[Khổng Tử, người sáng lập ra Nho giáo. Dòng chữ trên cùng ghi "_Tiên sư Khổng Tử hành giáo tượng_"]] **Nho giáo** (chữ Hán: ) hay **Nho gia**
**Tenzin Gyatso** (tiếng Tạng tiêu chuẩn: བསྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་; sinh ngày 6 tháng 7 năm 1935) là Đạt-lai Lạt-ma thứ 14, nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của Phật giáo Tây Tạng. ## Tiểu sử
**Tôn giáo tại Hoa Kỳ** đặc trưng bởi sự đa dạng các niềm tin và thực hành tôn giáo. Theo các cuộc thăm dò ý kiến gần đây, 76% tổng số dân Hoa Kỳ nhận
Một tòa nhà của [[Viện Đại học Huế (nay là Đại học Huế), ở số 3 đường Lê Lợi, thành phố Huế.]] Các chính thể độc lập ở Việt Nam từ thế kỷ 20 nói
**Đại tạng kinh** (, _Dàzàngjīng_; , _Daejanggyeong_; , _Daizōkyō_), còn được gọi tắt là **Tạng kinh** (藏經) hay **Nhất thiết kinh** (一切經), là danh xưng dùng để chỉ các tổng tập Kinh điển Phật giáo
liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Hanoi_Temple_of_Literature.jpg|nhỏ|Quần thể di tích [[Văn Miếu – Quốc Tử Giám tại Hà Nội, bao gồm cả Quốc Tử Giám (國子監), trường đại học đầu tiên của Việt Nam]] Bài viết liệt kê danh sách các
**Đại học Leeds** là một viện đại học ở Leeds, Tây Yorkshire, Anh, thành lập vào năm 1831. Ban đầu nó có tên là Cao đẳng Khoa học Yorkshire và sau đó là Cao đẳng
Giới thiệu cuốn sách “Đại Ý Kinh Pháp Hoa” Kinh Pháp Hoa, hay còn gọi là “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh,” là một trong những kinh điển quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa,
nhỏ|Tượng Xá Lợi Phất được thờ tại các nước Phật giáo Nam Tông **Xá-lợi-phất** (tiếng Phạn: _śāriputra_, tiếng Pali _sāriputta_; tiếng Trung: 舍利弗) cũng được gọi là **Xá-lợi tử**, "con trai của bà Xá-lợi (_śāri_)",
thumb|right|348x348px|Bìa của bài thơ có chủ đề tiến hóa của [[Erasmus Darwin, _Temple of Nature_ cho thấy một nữ thần vén bức màn bí ẩn của thiên nhiên (bên trong là Artemis). Tượng trưng và
phải|nhỏ|Biểu tượng của Ấn Độ giáo được thế giới biết đến nhỏ|phải|Một ngôi đền Ấn Độ giáo **Ấn Độ giáo**, **Ấn giáo** hay **Hindu giáo** (Hưng đô giáo) là một tôn giáo, hệ thống tín
nhỏ|263x263px|Một hiện vật kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng tiếng Phạn ([[Thế kỷ 5|thế kỉ V) được lưu giữ ở bảo tàng Lăng mộ Triệu Văn Đế]] **Kinh Diệu Pháp Liên Hoa** (sa. Saddharma Puṇḍarīka
**Chương trình giáo dục phổ thông 2018** (gọi tắt là **Chương trình 2018**, hay CTGDPT **2018**) là chương trình định hướng giáo dục và đào tạo cho mọi cấp học phổ thông do Bộ Giáo
**Gioan Phaolô II** (hay **Gioan Phaolô Đệ Nhị;** tiếng Latinh: _Ioannes Paulus II_; tên khai sinh: **Karol Józef Wojtyła,** ; 18 tháng 5 năm 1920 – 2 tháng 4 năm 2005) là vị giáo hoàng
thumb|right|Quang học nghiên cứu hiện tượng [[tán sắc của ánh sáng.]] **Quang học** là một ngành của vật lý học nghiên cứu các tính chất và hoạt động của ánh sáng, bao gồm tương tác
**Tào Động tông** (zh. 曹洞宗 _cáo-dòng-zōng_, ja. _sōtō-shū_) là một trong năm Thiền phái của Thiền tông Trung Quốc, được sáng lập vào cuối nhà Đường bởi hai thầy trò Thiền sư Động Sơn Lương
**Huyền Trang** (chữ Hán: 玄奘; bính âm: _Xuán Zàng_; khoảng 602–664), hay **Huyền Tráng**, tục danh **Trần Huy** (陳禕), cũng thường được gọi là **Đường Tam Tạng** (唐三藏) hay **Đường Tăng** (唐僧), là một cao
**Aristoteles** ( , _Aristotélēs_; chính tả tiếng Anh: **Aristotle**, phiên âm tiếng Việt: **A-rit-xtốt**; 384 – 322 TCN) là một nhà triết học và bác học người Hy Lạp cổ điển. Ông là một trong
**Đại học Virginia** (tiếng Anh: _University of Virginia;_ gọi tắt: _U.Va_ hoặc _UVA_) là một trường đại học nghiên cứu công lập tại Charlottesville, Virginia, Hoa Kỳ. Trường được Thomas Jefferson thành lập vào năm
Sách Tây Vực Ký. Pháp sư Huyền Trang soạn, Hòa Thượng Thích Như Điển và Nguyễn Minh Tiến dịch Việt ngữ. Hội Đồng Hoằng Pháp xuất bản và phát hành toàn cầu. NXB Đà Nẵng xuất
**Quyền động vật trong các tôn giáo Ấn Độ** là quan điểm, quan niệm, giáo lý, học thuyết của các tôn giáo lớn ở Ấn Độ bao gồm Ấn Độ giáo (Hindu giáo), Phật giáo
nhỏ|Sách _Mitologia Comparata (Thần thoại đối chiếu)_ năm 1887 bằng [[tiếng Ý]] **Thần thoại học** (tiếng Hy Lạp: _μυθολογία_ ghép từ _μῦθος_ - "thần thoại" hay "truyền thuyết" và _λόγος_ - "lời nói", "câu chuyện",
Mạn-đà-la **Mật Tông** (zh. 密宗 _mì-zōng_) là từ gốc Hán dùng để gọi pháp môn bắt nguồn từ sự kết hợp giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo Đại thừa, được hình thành vào khoảng
**Thuật ngữ văn học Nhật Bản** được trình bày theo thứ tự abc dưới đây là một số thuật ngữ, khái niệm, danh từ riêng thường gặp trong văn học Nhật Bản, bao gồm trong