✨Nguyễn Phúc Bửu Tán

Nguyễn Phúc Bửu Tán

Nguyễn Phúc Bửu Tán (chữ Hán: 阮福寶巑; 1882 – 8 tháng 5 năm 1941), thường được gọi là Ông Hoàng Chín, tước phong Tuyên Hóa vương (宣化王), là một hoàng tử con vua Dục Đức nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Tiểu sử

Hoàng tử Bửu Tán là con trai thứ 9 của vua Dục Đức, mẹ là Từ Minh Hoàng hậu Phan Thị Điều. Bửu Tán là em ruột cùng mẹ với vua Thành Thái, hoàng tử thứ 7 của Dục Đức. Khi vua Dục Đức bị phế, các hoàng tử con ông phải theo mẹ về quê. Đến khi vua Thành Thái lên ngôi mới cho đón mẹ và các hoàng đệ vào cung.

Năm Thành Thái thứ 9 (1897), tháng 11 (âm lịch), vua ngự giá Nam tuần, cả 3 hoàng đệ là Bửu Thiện (tức Bửu Tán), Bửu Kiêm, Bửu Lũy đều được theo hầu.

Tháng 8 (âm lịch), Thành Thái năm thứ 12 (1900), Bửu Tán được vua anh phong làm Tuyên Hóa Quận công (宣化郡公), chuẩn cho trích của công 4000 quan tiền để xây dựng phủ đệ cho ông. Cũng trong năm đó, quận công Bửu Thiện cưới bà Nguyễn Thị Đình làm chánh thất, là con gái thứ của Diên Lộc Quận công Nguyễn Thân, được vua ban cho các vật phẩm và 5000 đồng.

Tháng 12 (âm lịch) cùng năm, vua cho Thượng thư bộ Lễ Ngô Đình Khả ngày ngày tới phủ đệ của quận công Bửu Tán và hoàng đệ Bửu Kiêm để dạy hai ông tiếng Tây.

Năm thứ 16 (1904), tháng giêng, vua Thành Thái cho mở trường Tôn học dạy chữ quốc ngữ và tiếng Tây cho các công tử công tôn, sai quận công Bửu Tán kiêm quản Tôn học, soạn quy chế chương trình tâu lên để thi hành (đặt 2 Trợ giáo, 5 Giáo học, 10 Thừa biện). Cũng trong năm đó, ông được gia phong làm Tuyên Hóa công (宣化公).

Tháng 10 (âm lịch) năm thứ 17 (1905), An Thành Quận vương Miên Lịch (hoàng tử út của vua Minh Mạng) ở phủ Tôn nhân dâng sớ nói rằng, các quan phần nhiều vì già yếu, từ chức nên sợ việc phủ bề bộn, khó lo chu toàn, mới xin cho Tuyên Hóa công Bửu Tán kiêm nhiếp việc ở phủ Tôn nhân. Vua tuy ưng thuận lời tâu nhưng lại không làm. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, hai ông Bửu Tán và Bửu Kiêm được Pháp tặng cho mỗi người một tấm Bắc Đẩu bội tinh hạng Năm.

Năm 1907, vua Thành Thái thoái vị nhường ngôi cho con trai là hoàng tử Vĩnh San, tức vua Duy Tân. Khâm sứ đại thần Levecque cho rằng, Tuyên Hóa công Bửu Tán lanh lợi khôn khéo, nhiều mưu kế, lưu lại ở kinh sợ sinh chuyện, đã trình với Toàn quyền Đông Dương cho ông Bửu Tán được phép chọn nơi ở mới tại một trong ba tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Bửu Tán xin được tới Nha Trang, bèn do phủ Phụ chính tâu lên, chuẩn cho ông và gia quyến tất cả 10 người dời tới dinh Án sát tỉnh Khánh Hòa (quan Bố chính Khánh Hòa trước đã dời qua ở dinh Tổng đốc, quan Án sát tỉnh đó chuyển qua ở dinh Bố chính, còn dinh Án sát bỏ trống nên cho gia đình Bửu Tán trú ngụ). Tháng 8 (âm lịch) năm Duy Tân thứ 3 (1909), nhân ngày giỗ kỵ của vua Dục Đức, Bửu Tán lại xin về kinh chiêm bái thì được chấp thuận. Tháng 3 (âm lịch) năm thứ 4, chuẩn cho Tuyên Hóa công Bửu Tán được hồi kinh.

Tháng 3 công lịch năm Bảo Đại thứ 16 (1941), Bửu Tán được tấn phong làm Tuyên Hóa Quận vương (宣化郡王). Cùng năm đó, ngày 8 tháng 5, quận vương Bửu Tán qua đời, thọ 60 tuổi, được truy phong làm Tuyên Hóa vương (宣化王), thụy là Đoan Cung (端恭). Tẩm mộ của ông hiện tọa lạc tại phường An Cựu, thành phố Huế.

Phủ đệ của Tuyên Hóa vương tọa lạc tại số 32, Trần Hưng Đạo, phường Đông Ba, Huế, hiện đang trong tình trạng xuống cấp. Tuyên Hóa vương Bửu Tán không lựa chọn kiến trúc nhà rường truyền thống mà đã chọn kiểu kiến trúc Pháp để xây dựng phủ đệ cho mình. Đây là một trong những công trình kiến trúc đầu tiên ở Huế mang phong cách kết hợp hài hòa giữa hai nền mỹ thuật Đông - Tây.

Tuyên Hóa vương Bửu Tán nổi tiếng với những đóng góp của ông trong nghệ thuật tuồng Huế, ca Huế. Một người con trai của ông là Vĩnh Phan, tập phong Đình hầu, được biết đến là một danh cầm tuyệt kỹ, nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc. Vợ của công tử Vĩnh Phan là bà Bích Liễu, một giọng ca chầu văn nổi tiếng trong cung đình Huế lúc bấy giờ. Hai ông bà sinh được hai người con trai, đều là những nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam, là Bảo Chấn và Bảo Phúc.

👁️ 143 | 🔗 | 💖 | ✨ | 🌍 | ⌚
**Nguyễn Phúc Bửu Tán** (chữ Hán: 阮福寶巑; 1882 – 8 tháng 5 năm 1941), thường được gọi là **Ông Hoàng Chín**, tước phong **Tuyên Hóa vương** (宣化王), là một hoàng tử con vua Dục Đức
**Nguyễn Phúc Bửu Tán** (chữ Hán: 阮福寶巑; 1882 – 8 tháng 5 năm 1941), thường được gọi là **Ông Hoàng Chín**, tước phong **Tuyên Hóa vương** (宣化王), là một hoàng tử con vua Dục Đức
**Nguyễn Phúc Bửu Kiêm** (chữ Hán: 阮福寶嵰; 1884 – 5 tháng 8 năm 1940), thường được gọi là **Ông Hoàng Mười**, tước phong **Hoài Ân vương** (懷恩王), là một hoàng tử con vua Dục Đức
**Nguyễn Phúc Bửu Kiêm** (chữ Hán: 阮福寶嵰; 1884 – 5 tháng 8 năm 1940), thường được gọi là **Ông Hoàng Mười**, tước phong **Hoài Ân vương** (懷恩王), là một hoàng tử con vua Dục Đức
Nguyễn Phúc Bửu Sum là người Huế, thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn. Ông là một nhà trí thức mà dù cả cuộc đời chịu cảnh vùi chôn, chìm khuất vẫn luôn canh cánh
Nguyễn Phúc Bửu Sum là người Huế, thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn. Ông là một nhà trí thức mà dù cả cuộc đời chịu cảnh vùi chôn, chìm khuất vẫn luôn canh cánh
**Nguyễn Phúc Bửu Tủng** (còn đọc là **Tung**) (chữ Hán: 阮福寶𡾼; ? – 1900), tước phong **An Hóa Quận vương** (安化郡王), là một hoàng tử con vua Đồng Khánh nhà Nguyễn trong lịch sử Việt
**Nguyễn Phúc Bửu Tủng** (còn đọc là **Tung**) (chữ Hán: 阮福寶𡾼; ? – 1900), tước phong **An Hóa Quận vương** (安化郡王), là một hoàng tử con vua Đồng Khánh nhà Nguyễn trong lịch sử Việt
**Nguyễn Phúc Bửu Lũy** (còn có âm đọc là **Bửu Lỗi**) (chữ Hán: 阮福寶𡾊; 1885 – 1902), tước phong **Mỹ Hóa công** (美化公), là một hoàng tử con vua Dục Đức nhà Nguyễn trong lịch
**Nguyễn Phúc Bửu Lũy** (còn có âm đọc là **Bửu Lỗi**) (chữ Hán: 阮福寶𡾊; 1885 – 1902), tước phong **Mỹ Hóa công** (美化公), là một hoàng tử con vua Dục Đức nhà Nguyễn trong lịch
**Nguyễn Phúc Vĩnh Cẩn** (chữ Hán: 阮福永𧯢, 1914 - ?) là Hoàng thân triều Nguyễn. Ông là cháu cố của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, là cháu nội của Kiên Quận công Nguyễn
**Nguyễn Phúc Vĩnh Cẩn** (chữ Hán: 阮福永𧯢, 1914 - ?) là Hoàng thân triều Nguyễn. Ông là cháu cố của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, là cháu nội của Kiên Quận công Nguyễn
**Nguyễn Phúc Hồng Thiết** (chữ Hán: 阮福洪蔎; 1848 – 1937), tự **Lục Khanh** (陸卿), hiệu **Liên Nghiệp Hiên** (連業軒), Pháp danh **Thanh Thiện** (青善) là một hoàng thân nhà Nguyễn và là một thi sĩ,
**Nguyễn Phúc Hồng Thiết** (chữ Hán: 阮福洪蔎; 1848 – 1937), tự **Lục Khanh** (陸卿), hiệu **Liên Nghiệp Hiên** (連業軒), Pháp danh **Thanh Thiện** (青善) là một hoàng thân nhà Nguyễn và là một thi sĩ,
**Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc** (1923 – 2009), thường được gọi tắt là **Vĩnh Lộc**, nguyên là một tướng lĩnh Thiết giáp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân
**Nguyễn Phúc Vĩnh Lộc** (1923 – 2009), thường được gọi tắt là **Vĩnh Lộc**, nguyên là một tướng lĩnh Thiết giáp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân
**Thọ Xuân Vương** (chữ Hán: 壽春王; 5 tháng 8 năm 1810 - 5 tháng 11 năm 1886), biểu tự **Minh Tỉnh** (明靜), hiệu **Đông Trì** (東池), là hoàng tử nhà Nguyễn, một hoàng thân có
**Thọ Xuân Vương** (chữ Hán: 壽春王; 5 tháng 8 năm 1810 - 5 tháng 11 năm 1886), biểu tự **Minh Tỉnh** (明靜), hiệu **Đông Trì** (東池), là hoàng tử nhà Nguyễn, một hoàng thân có
**Nguyễn Phúc Miên Điều** (còn có âm đọc là **Điệu**) (chữ Hán: 阮福綿𡩢; 13 tháng 2 năm 1836 – 17 tháng 7 năm 1891), tước phong **Kiến Hòa Quận công** (建和郡公), là một hoàng tử
**Nguyễn Phúc Miên Điều** (còn có âm đọc là **Điệu**) (chữ Hán: 阮福綿𡩢; 13 tháng 2 năm 1836 – 17 tháng 7 năm 1891), tước phong **Kiến Hòa Quận công** (建和郡公), là một hoàng tử
thumb|Tùng Thiện vương [[Nguyễn Phúc Miên Thẩm.]] Triều đại nhà Nguyễn đã thiết lập quy chế cụ thể về tước hiệu cùng đãi ngộ cho các thành viên thuộc hoàng tộc (họ Nguyễn Phúc cùng
thumb|Tùng Thiện vương [[Nguyễn Phúc Miên Thẩm.]] Triều đại nhà Nguyễn đã thiết lập quy chế cụ thể về tước hiệu cùng đãi ngộ cho các thành viên thuộc hoàng tộc (họ Nguyễn Phúc cùng
thumb|Tùng Thiện vương [[Nguyễn Phúc Miên Thẩm.]] Triều đại nhà Nguyễn đã thiết lập quy chế cụ thể về tước hiệu cùng đãi ngộ cho các thành viên thuộc hoàng tộc (họ Nguyễn Phúc cùng
:_Để tránh nhầm lẫn với một hoàng tử con vua Minh Mạng có cùng tên gọi, xem Nguyễn Phúc Miên Bảo (sinh 1835)._ **Nguyễn Phúc Miên Bảo** (về sau đọc trại thành **Bửu**) (chữ Hán:
:_Để tránh nhầm lẫn với một hoàng tử con vua Minh Mạng có cùng tên gọi, xem Nguyễn Phúc Miên Bảo (sinh 1835)._ **Nguyễn Phúc Miên Bảo** (về sau đọc trại thành **Bửu**) (chữ Hán:
**Nguyễn Phúc Hồng Bảo** (chữ Hán: 阮福洪保, 1825 - 1854), còn hay gọi **An Phong công** (安豐公), là con trưởng của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị hoàng đế, vị Hoàng đế thứ ba của triều
**Nguyễn Phúc Hồng Bảo** (chữ Hán: 阮福洪保, 1825 - 1854), còn hay gọi **An Phong công** (安豐公), là con trưởng của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị hoàng đế, vị Hoàng đế thứ ba của triều
:_Để tránh nhầm lẫn với một hoàng tử con vua Minh Mạng có cùng tên gọi, xem Nguyễn Phúc Miên Bảo (sinh 1820)._ **Nguyễn Phúc Miên Bảo** (về sau đọc trại thành **Bửu**) (chữ Hán:
:_Để tránh nhầm lẫn với một hoàng tử con vua Minh Mạng có cùng tên gọi, xem Nguyễn Phúc Miên Bảo (sinh 1820)._ **Nguyễn Phúc Miên Bảo** (về sau đọc trại thành **Bửu**) (chữ Hán:
**Nguyễn Phúc Hồng Truyền** (chữ Hán: 阮福洪傳; 3 tháng 9 năm 1837 – 18 tháng 7 năm 1889), tước phong **Tuy Hòa Quận vương** (綏和郡王), là một hoàng tử con vua Thiệu Trị nhà Nguyễn
**Nguyễn Phúc Hồng Truyền** (chữ Hán: 阮福洪傳; 3 tháng 9 năm 1837 – 18 tháng 7 năm 1889), tước phong **Tuy Hòa Quận vương** (綏和郡王), là một hoàng tử con vua Thiệu Trị nhà Nguyễn
**Nguyễn Phúc Miên Sạ** (chữ Hán: 阮福綿宱; 13 tháng 3 năm 1830 – 13 tháng 1 năm 1902), tước phong **Tĩnh Gia công** (靜嘉公), là một hoàng tử con vua Minh Mạng nhà Nguyễn trong
**Nguyễn Phúc Miên Sạ** (chữ Hán: 阮福綿宱; 13 tháng 3 năm 1830 – 13 tháng 1 năm 1902), tước phong **Tĩnh Gia công** (靜嘉公), là một hoàng tử con vua Minh Mạng nhà Nguyễn trong
**Bửu Đình** (寳庭), bút danh **Hà Trì** (1898 - 1931) là nhà văn, nhà báo, nhà cách mạng Việt Nam. ## Tiểu sử Ông tên khai sinh **Nguyễn Phúc Bửu Đình**, sinh năm 1898 tại
**Bửu Đình** (寳庭), bút danh **Hà Trì** (1898 - 1931) là nhà văn, nhà báo, nhà cách mạng Việt Nam. ## Tiểu sử Ông tên khai sinh **Nguyễn Phúc Bửu Đình**, sinh năm 1898 tại
**Phụ Thiên Thuần Hoàng Hậu** (chữ Hán: 輔天純皇后, 22 tháng 12 năm 1870 - 19 tháng 11 năm 1935), còn được gọi là **Đức Thánh Cung** (德聖宮), là chính thất của Đồng Khánh hoàng đế
**Phụ Thiên Thuần Hoàng Hậu** (chữ Hán: 輔天純皇后, 22 tháng 12 năm 1870 - 19 tháng 11 năm 1935), còn được gọi là **Đức Thánh Cung** (德聖宮), là chính thất của Đồng Khánh hoàng đế
**Nguyễn Văn Tâm** (阮文杺, 1893 – 1990) là Thủ tướng chính quyền Quốc gia Việt Nam dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại từ tháng 6 năm 1952 đến tháng 12 năm 1953. Ông là người
**Nguyễn Văn Tâm** (阮文杺, 1893 – 1990) là Thủ tướng chính quyền Quốc gia Việt Nam dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại từ tháng 6 năm 1952 đến tháng 12 năm 1953. Ông là người
nhỏ|phải|Bửu tỷ của vua Gia Long **Bửu tỷ triều Nguyễn** hay **bảo tỷ triều Nguyễn** là loại ấn tín của Hoàng đế, tượng trưng cho Đế quyền của các vị vua triều Nguyễn. Bửu tỷ
nhỏ|phải|Bửu tỷ của vua Gia Long **Bửu tỷ triều Nguyễn** hay **bảo tỷ triều Nguyễn** là loại ấn tín của Hoàng đế, tượng trưng cho Đế quyền của các vị vua triều Nguyễn. Bửu tỷ
**Trương Tấn Bửu** (Chữ Hán: 張進寶; 1752 – 1827), có tên khác là **Trương Tấn Long** (張進隆); là một danh tướng của chúa Nguyễn Phúc Ánh trong lịch sử Việt Nam. Nhờ lập được nhiều
**Trương Tấn Bửu** (Chữ Hán: 張進寶; 1752 – 1827), có tên khác là **Trương Tấn Long** (張進隆); là một danh tướng của chúa Nguyễn Phúc Ánh trong lịch sử Việt Nam. Nhờ lập được nhiều
**Nguyễn Thị Anh** (chữ Hán: 阮氏媖; 1879 – ?), phong hiệu **Hoàng quý phi** (皇貴妃), là một cung phi của vua Thành Thái nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Vua Duy Tân lên ngôi
**Nguyễn Thị Anh** (chữ Hán: 阮氏媖; 1879 – ?), phong hiệu **Hoàng quý phi** (皇貴妃), là một cung phi của vua Thành Thái nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Vua Duy Tân lên ngôi
**Nguyễn Thị Anh** (chữ Hán: 阮氏媖; 1879 – ?), phong hiệu **Hoàng quý phi** (皇貴妃), là một cung phi của vua Thành Thái nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Vua Duy Tân lên ngôi
**Từ Minh Huệ hoàng hậu** (chữ Hán: 慈明惠皇后, 8 tháng 9 năm 1855 - 27 tháng 12 năm 1906) là vợ chính của Nguyễn Cung Tông Dục Đức của triều đại nhà Nguyễn trong lịch
**Từ Minh Huệ hoàng hậu** (chữ Hán: 慈明惠皇后, 8 tháng 9 năm 1855 - 27 tháng 12 năm 1906) là vợ chính của Nguyễn Cung Tông Dục Đức của triều đại nhà Nguyễn trong lịch
**Thiên Tân** (; ), giản xưng **Tân** (津); là một trực hạt thị, đồng thời là thành thị trung tâm quốc gia và thành thị mở cửa ven biển lớn nhất ở phía bắc của
**Thiên Tân** (; ), giản xưng **Tân** (津); là một trực hạt thị, đồng thời là thành thị trung tâm quốc gia và thành thị mở cửa ven biển lớn nhất ở phía bắc của