Thơ Hoàng Đế Thiệu Trị
Cuốn sách viết về thơ của Hoàng đế Thiệu Trị cũng như quan niệm của ông về thi ca, tất cả đều gắn với lý tưởng thời đại. Ông không chỉ sáng tác bằng nhiều thể thơ nhất Việt Nam mà còn là nhà sáng tạo thể cách thi ca. Ông cũng là một Nhà lý luận, nghiên cứu văn chương. Đọc nhiều trang sử liệu có thể thấy ông không chỉ một nhà thơ mà còn là nhà lý luận phê bình, nghiên cứu văn học với tư duy sâu sắc qua hàng loạt phát biểu về thơ của mình. Thơ đối với Thiệu Trị không đơn thuần là nghệ thuật, càng không phải là thú tiêu dao của bậc đế vương rảnh rỗi, mà là phương tiện biểu đạt đạo lý và chính hóa. Quan điểm thơ ca của ông thể hiện qua nhiều phương diện: từ lý tưởng đạo Nho đến thực tiễn phê bình văn học, từ tinh thần trọng học vấn đến thái độ duy lý với văn chương cổ truyền. Những tư tưởng này cho thấy Thiệu Trị là một nhà thơ mang tầm vóc của học giả, không chỉ viết thơ mà còn nghĩ về thơ, bình xét về thơ, và giảng giải thi pháp như một học giả thực thụ.
Cách đây 23 năm, tác giả Nguyễn Phước Hải Trung có xuất bản cuốn sách nghiên cứu viết riêng đầu tay của ông với tựa đề “Chơi chữ Hán Nôm - những bài thơ độc đáo”.Ông choáng ngợp với những sáng tạo chữ nghĩa của cổ nhân. Đến khi thủ đắc một bộ thơ chữ Hán “Ngự chế thi tập” (từ sơ tập đến tứ tập với 5000 trang) đầy đủ của hoàng đế Thiệu Trị mới càng “hoang mang” vì số lượng “những bài thơ độc đáo” (như cách nói trước đây của tôi) ở tập này quá nhiều, khiến người đọc không khỏi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Khi rảng rỗi, tác giả bắt đầu tìm hiểu nội dung cụ thể của những bài thơ “dị thường” trong tập thơ này, tìm hiểu về “chân dung thơ” vua Thiệu Trị một cách toàn diện mới thấy rõ, hoàng đế là một tác giả cực kỳ đặc biệt của “làng văn học trung đại”.
Qua việc tìm hiểu thi ca và lịch sử gắn với thi phú của nhà vua, xin được nêu sự đặc biệt ấy qua mấy ý khái quát sau đây:
- Đó là người làm nhiều thơ nhất nước Việt Nam đến thời điểm hiện nay;
- Đó là người sáng tác vận dụng nhiều thể thơ nhất thời trung đại;
- Đó là người sáng tạo nhiều thể thơ nhất trong văn chương thời trung đại;
- Đó là người đề vịnh nhiều nội dung chủ đề nhất trong sáng tác của mình;
- Đó là người suy tư, trăn trở nhiều nhất về sáng tác thi phú qua nhiều
Trích đoạn sách
Vua Thiệu Trị là một nhà thơ thực hành và trải nghiệm rất nhiều thể thơ, nhà vua hầu như làm đủ các thể. Sách Thực lục có chép đoạn đối thoại giữa vua Thiệu Trị và các đại thần bàn về thi ca vào năm 1847 như sau: vua có nói “Phép làm thơ của đời xưa, đời nay, nhiều đến 120 thể, thể nào là dễ, thể nào là khó? Trương Đăng Quế thưa rằng: ‘Tự chúng tôi xem ra, đều là khó cả!’. Vua nói rằng: ‘Cổ thể, không dễ học. Đại để, từ đời Tam đại trở về trước, thể cách đều khó; từ đời Tam đại trở về sau, xem ra hơi dễ. Đời càng về sau, thể cách thơ càng yếu đi! Nhà Đường không bằng nhà Hán, nhà Tống không bằng nhà Đường’. Lại hỏi: ‘Thơ có thể cấm, bắt đầu từ bao giờ?’. Vũ Phạm Khải thưa rằng: ‘Âu Dương Tu xướng ra, Tô Đông Pha hoạ theo. Vua Càn Long nhà Thanh phần nhiều dùng thể ấy”. Đoạn thoại trên cho thấy nhà vua cùng các đại thần đều có nghiên cứu cổ thi. Đọc sách, tra cứu nhiều thì vua Thiệu Trị mới cả quyết có đến 120 thể cách thi ca và đưa ra sự so sánh tính chất “khó, dễ” của các thể, so sánh thi ca Trung Hoa qua lịch sử các triều đại. Nhà vua đã cho các đại thần tập hợp thơ mình sáng tác lâu nay để ấn hành một tác phẩm với sự đa dạng về thể cách như một cách tổng kết về những thực hành thể thơ xưa nay cũng như các sáng tạo mới, vua cho rằng: “nhà làm thơ có thể cách cũng như nhà dụng binh có trận chính, trận kỳ, tham khảo cả đi mà cùng nhìn cả hai đằng, không bằng hợp cả làm một mà tổng quát lại để tiện xem xét để rõ là làm mới hay là thuật cũ. Các ngươi nên xét rõ ngay trong các tập thơ ngự chế, phàm những chỗ có quan hệ đến thể cách đời xưa và đời nay, đều nên theo trước sau mà lần lượt biên vào”.
👁️
1124 | 🔗 | 💖 | ✨ | 🌍 | ⌚
VNĐ: 260,130
Cuốn sách trong hình là "Thơ Hoàng Đế Thiệu Trị – Đỉnh Cao Nghệ Thuật Ngôn Từ" của Nguyễn Phước Hải Trung, do Nhà xuất bản Văn học phát hành. Đây là một công trình
Thơ Hoàng Đế Thiệu Trị Cuốn sách viết về thơ của Hoàng đế Thiệu Trị cũng như quan niệm của ông về thi ca, tất cả đều gắn với lý tưởng thời đại. Ông không
Tên sách Thơ Hoàng đế Thiệu Trị Tác giả Nguyễn Phước Hải Trung Hình thức Bìa cứng, tay gấp Số trang 432 trang Nhà xuất bản Văn học Khổ 16x24cm Barcode - ISBN 8935280920132 - 9786326241976 THƠ HOÀNG ĐẾ THIỆU TRỊ - ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ Tác giả: Nguyễn Phước Hải Trung Cuốn sách viết về thơ của Hoàng đế Thiệu Trị cũng như quan niệm của ông về thi ca, tất cả đều gắn với lý tưởng thời đại. Ông không chỉ sáng tác bằng nhiều thể thơ nhất Việt Nam mà còn là nhà sáng tạo thể cách thi ca. Ông cũng là một Nhà lý luận, nghiên cứu văn chương. Đọc nhiều trang sử liệu có thể thấy ông không chỉ một nhà thơ mà còn là nhà lý luận phê bình, nghiên cứu văn học với tư duy sâu sắc qua hàng loạt phát biểu về thơ của mình. Thơ đối với Thiệu Trị không đơn thuần là nghệ thuật, càng không phải là thú tiêu dao của bậc đế vương rảnh rỗi, mà là phương tiện biểu đạt đạo lý và chính hóa. Quan điểm thơ ca của ông thể hiện qua nhiều phương diện: từ lý tưởng đạo Nho đến thực tiễn phê bình văn học, từ tinh thần trọng học vấn đến thái độ duy lý với văn chương cổ truyền. Những tư tưởng này cho thấy Thiệu Trị là một nhà thơ mang tầm vóc của học giả, không chỉ viết thơ mà còn nghĩ về thơ, bình xét về thơ, và giảng giải thi pháp như một học giả thực thụ. Cách đây 23 năm, tác giả Nguyễn Phước Hải Trung có xuất bản cuốn sách nghiên cứu viết riêng đầu tay của ông với tựa đề “Chơi chữ Hán Nôm - những bài thơ độc đáo”.Ông choáng ngợp với những sáng tạo chữ nghĩa của cổ nhân. Đến khi thủ đắc một bộ thơ chữ Hán “Ngự chế thi tập” (từ sơ tập đến tứ tập với 5000 trang) đầy đủ của hoàng đế Thiệu Trị mới càng “hoang mang” vì số lượng “những bài thơ độc đáo” (như cách nói trước đây của tôi) ở tập này quá nhiều, khiến người đọc không khỏi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Khi rảng rỗi, tác giả bắt đầu tìm hiểu nội dung cụ thể của những bài thơ “dị thường” trong tập thơ này, tìm hiểu về “chân dung thơ” vua Thiệu Trị một cách toàn diện mới thấy rõ, hoàng đế là một tác giả cực kỳ đặc biệt của “làng văn học trung đại”.
Cuốn sách viết về thơ của Hoàng đế Thiệu Trị cũng như quan niệm của ông về thi ca, tất cả đều gắn với lý tưởng thời đại. Ông không chỉ sáng tác bằng nhiều
Cuốn sách viết về thơ của Hoàng đế Thiệu Trị cũng như quan niệm của ông về thi ca, tất cả đều gắn với lý tưởng thời đại. Ông không chỉ sáng tác bằng nhiều
Kinh Thành Huế Trong Thi Họa - Hoàng Đế Thiệu Trị Và Ngự Đề Đồ Hội Thi Tập Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ của Hoàng đế Thiệu
Kinh Thành Huế Trong Thi Họa - Hoàng Đế Thiệu Trị Và Ngự Đề Đồ Hội Thi Tập Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ của Hoàng đế Thiệu
`Thông Báo Phát Hành Cuốn Sách “Kinh Thành Huế Trong Thi Họa Hoàng Đế Thiệu Trị Và Ngự Đề Đồ Hội Thi Tập” 1. GIỚI THIỆU VỀ CUỐN SÁCH Kinh thành Huế trong thi họa
Sách Lịch Sử Văn Hóa: Kinh Thành Huế Trong Thi Họa - Hoàng Đế Thiệu Trị Và Ngự Đề Đồ Hội Thi Tập Hoàng đế Thiệu Trị và Ngự đề đồ hội thi tập Ngự
Kinh thành Huế trong thi họa Hoàng đế Thiệu Trị và Ngự đề đồ hội thi tập Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ của Hoàng đế Thiệu Trị
Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ của Hoàng đế Thiệu Trị - vị vua thứ 3 của vương triều Nguyễn. Tập thơ chia làm 3 phần là
GIỚI THIỆU VỀ CUỐN SÁCH Kinh thành Huế trong thi họa Hoàng đế Thiệu Trị và Ngự đề đồ hội thi tập Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ
Kinh Thành Huế Trong Thi Họa - Hoàng Đế Thiệu Trị Và Ngự Đề Đồ Hội Thi Tập Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ của Hoàng đế
Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ của Hoàng đế Thiệu Trị - vị vua thứ 3 của vương triều Nguyễn. Tập thơ chia làm 3 phần là
**Thiệu Trị** (chữ Hán: 紹治 16 tháng 6 năm 1807 – 4 tháng 11 năm 1847), húy là **Nguyễn Phúc Dung** (阮福曧), sau cải thành **Nguyễn Phúc Miên Tông** (阮福綿宗), là vị hoàng đế thứ
**Friedrich Wilhelm Viktor Abert von Hohenzollern, Wilhelm II** của Phổ và Đức, (27 tháng 1 năm 1859 – 4 tháng 6 năm 1941) là vị Hoàng đế (_Kaiser_) cuối cùng của Đế quốc Đức, đồng
**Friedrich III của Đức** ( _Prinz von Preußen_; 18 tháng 10 năm 1831 – 15 tháng 6 năm 1888) là Hoàng đế Đức và là Vua của Phổ trong khoảng ba tháng (99 ngày) từ
**Lăng Thiệu Trị** có tên chữ là **Xương Lăng** (昌陵) là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị. Đây là một di tích trong Quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận
**Wilhelm I** (tên đầy đủ: _Wilhelm Friedrich Ludwig_; 22 tháng 3 năm 1797 – 9 tháng 3 năm 1888), là quốc vương Phổ từ ngày 2 tháng 1 năm 1861, chủ tịch Liên bang Bắc
**Julianus** (,; 331/332 – 26 tháng 6 năm 363), có hỗn danh là **Julianus Kẻ bội giáo**, hoặc là **Julianus Nhà hiền triết**, là một hoàng đế La Mã, trị vì từ năm 355 cho
**Honorius** (; 384 – 423), là một vị Hoàng đế của Đế quốc Tây La Mã, ở ngôi từ năm 395 cho đến khi mất năm 423. Ông là người con út của Hoàng đế
**Hoàng đế của Toàn Nga** hoặc **Sa hoàng Nga** (tiếng Nga: (cải cách năm 1918) Императоръ Всероссійскій, Императрица Всероссійская, (chính tả hiện đại) Император Всероссийский, Императрица всероссийская, _Imperator Vserossiyskiy_, _Imperatritsa Vserossiyskaya_) là hoàng đế chuyên
**Hoàng Đế** (Trung phồn thể: 黃帝, Trung giản thể: 黄帝, bính âm: huángdì), còn gọi là **Hiên Viên Hoàng Đế** (軒轅黃帝), là một vị quân chủ huyền thoại và là anh hùng văn hoá của
nhỏ|Huy hiệu của [[Maximilian II của Thánh chế La Mã|Maximilian II từ 1564 tới 1576. Các hoàng đế sử dụng đại bàng hai đầu làm biểu tượng quyền lực]] **Hoàng đế La Mã Thần thánh**
**Alexandros** (, _Alexandros_, 19 tháng 9, 866 6 tháng 6, 913), đôi lúc còn gọi là **Alexandros III**, là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 912 đến 913. Ông là con trai thứ ba
Kinh Thành Huế Trong Thi Họa Ngự đề đồ hội thi tập nằm trong hệ thống trước tác đồ sộ của Hoàng đế Thiệu Trị - vị vua thứ 3 của vương triều Nguyễn. Tập thơ chia làm
thumb|upright|[[Dawit II|Lebna Dengel, _nəgusä nägäst_ (hoàng đế) của Ethiopia và thành viên của Vương triều Solomon.]] **Hoàng đế Ethiopia** (, nəgusä nägäst, "Vua của các vị vua"), còn được gọi là **atse** (, "hoàng đế"),
**Theophilos** (; 813 – 20 tháng 1, 842) là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 829 cho đến khi ông qua đời năm 842. Ông là vị hoàng đế thứ hai của triều đại
thumb|Bản đồ đế quốc La Mã Thần Thánh dưới triều Hoàng đế [[Karl IV của Thánh chế La Mã|Karl IV]] **Đế quốc La Mã Thần Thánh** (tiếng Latinh: _Sacrum Romanum Imperium_; tiếng Đức: _Heiliges Römisches
**Hoàng Kim** (sinh ngày 10 tháng 10 năm 1927 - mất ngày 19 tháng 9 năm 2020) là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng, nguyên Chính
**Hán Thuận Đế** (chữ Hán: 漢順帝; 115 - 20 tháng 9, 144), húy **Lưu Bảo** (劉保), là vị Hoàng đế thứ tám của nhà Đông Hán, và cũng là hoàng đế thứ 23 của nhà
nhỏ|Đồng solidus của Constantinus khoảng 407–408 đúc tại Lyon, với mặt sau là hình Constantinus cầm trên tay quân kỳ hoàng đế (Labarum) và quả cầu chiến thắng đang giẫm trên người một nô lệ
nhỏ|phải|Một con thỏ ở Tasmania, Úc **Thỏ hoang ở Úc** phản ánh tình trạng phát triển quá mức kiểm soát của loài thỏ châu Âu (Oryctolagus cuniculus) được du nhập vào Úc từ thế kỷ
**Nguyễn Phúc Thanh Đề** (chữ Hán: 阮福清媞; 1833 – 1869), phong hiệu **Thuận Chính Công chúa** (順正公主), là một công chúa con vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. ## Tiểu sử
The Emperor'S New Clothes - Bộ Quần Áo Mới Của Hoàng Đế - Truyện Cổ Tích Hay Nhất Thế Giới Ngày xửa ngày xưa… Những câu chuyện nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ! Truyện cổ
**Nghi Thiên Chương Hoàng hậu** (chữ Hán: 儀天章皇后; 20 tháng 6 năm 1810 - 22 tháng 5 năm 1901) là thuỵ hiệu (được truy tôn sau khi qua đời) của một mệnh phụ nhà Nguyễn
**Đế quốc La Mã** hay **Đế quốc Rôma** ( ; ) là giai đoạn tiếp nối Cộng hòa La Mã cổ đại. Chính thể Đế chế La Mã, được cai trị bởi các quân chủ
**Hán Vũ Đế** (chữ Hán: 漢武帝; 31 tháng 7, 156 TCN - 29 tháng 3, 87 TCN), tên thật **Lưu Triệt** (劉徹), biểu tự **Thông** (通), là vị hoàng đế thứ bảy của nhà Hán
**Tùy Dạng Đế** (chữ Hán: 隋煬帝, 569 - 11 tháng 4, 618), có nguồn phiên âm là **Tùy Dượng Đế**, **Tùy Dương Đế** hay **Tùy Dưỡng Đế**, đôi khi còn gọi là **Tùy Minh Đế**
**Hán Hiến Đế** (Giản thể: 汉献帝; phồn thể: 漢獻帝; 2 tháng 4 năm 181 - 21 tháng 4 năm 234), tên thật là **Lưu Hiệp** (劉協), tự là **Bá Hòa** (伯和), là vị Hoàng đế
**Thanh Thế Tổ** (chữ Hán: 清世祖; 15 tháng 3 năm 1638 – 5 tháng 2 năm 1661), họ Ái Tân Giác La, húy **Phúc Lâm**, là hoàng đế thứ hai của nhà Thanh và là hoàng
**Hán Quang Vũ Đế** (chữ Hán: 漢光武帝; 15 tháng 1, 5 TCN – 29 tháng 3, 57), hay còn gọi **Hán Thế Tổ** (漢世祖), húy **Lưu Tú** (劉秀), biểu tự **Văn Thúc** (文叔), là vị
Sự thay đổi về cương thổ của Cộng hòa La Mã, Đế quốc La Mã và Đế quốc Đông La Mã qua từng giai đoạn phát triển. Hình động, click vào để xem sự thay
Lăng Thiên Thọ Hữu là lăng tẩm của Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang (1769 - 1846), vợ thứ hai của vua Gia Long, mẹ vua Minh Mạng. Lăng cách khu tẩm điện
**Tấn An Đế** () (382–419), tên thật là **Tư Mã Đức Tông** (司馬德宗), là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Đông Tấn, và là Hoàng đế thứ 15 của Nhà Tấn trong lịch sử
**Hán Nguyên Đế** (chữ Hán: 漢元帝; 76 TCN - 8 tháng 7, 33 TCN), húy **Lưu Thích** (劉奭), là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị
**Nguyễn Hoàng** (chữ Hán: 阮潢; 28 tháng 8 năm 1525 – 20 tháng 7 năm 1613) hay **Nguyễn Thái Tổ**, **Chúa Tiên**, **Quốc chúa** là vị Chúa Nguyễn đầu tiên, người đặt nền móng cho
còn gọi là hay là tước hiệu của người được tôn là Hoàng đế ở Nhật Bản. Nhiều sách báo ở Việt Nam gọi là _Nhật Hoàng_ (日皇), giới truyền thông Anh ngữ gọi người
**Lý Chiêu Hoàng** (chữ Hán: 李昭皇; 1218 - 1278), **Chiêu Hoàng Đế** (昭皇帝) hay **Chiêu Thánh Hoàng hậu** (昭聖皇后) là Nữ Hoàng của Đại Việt, cũng là Hoàng Đế cuối cùng của triều đại nhà
**Tống Cung Đế** (chữ Hán: 宋恭帝, 2 tháng 11 năm 1271 - tháng 5 năm 1323), hay còn gọi là **Doanh Quốc công**, **Tống Đế Hiển** (宋帝㬎), tên thật là **Triệu Hiển** (趙㬎), là vị