✨Bình Minh (tàu không số)

Bình Minh (tàu không số)

Bình Minh là một chiếc tàu vận tải quân sự hoán cải từ tàu du lịch thuộc đoàn tàu không số - Đoàn 759, Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cải hoán

Tàu Bình Minh nguyên là tàu du lịch vỏ đồng, thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 23 tháng 10 năm 1962, Đoàn 759 thành lập với nhiệm vụ chuyên chở vũ khí trang bị vào các chiến trường miền Nam Việt Nam. Cũng trong tháng 10, Đoàn 759 lập tức cho bốn con tàu đánh số từ Phương Đông 1 đến Phương Đông 4 xuất phát vào Nam Bộ.

Trước yêu cầu của chiến trường, trong thời gian chờ các tàu Phương Đông trở ra, Bộ Quốc phòng quyết định giao cho Đoàn 759 tàu Bình Minh đồng thời giao nhiệm vụ sửa chữa lại tàu, cải hoán sang tàu vận tải do con tàu vốn đã cũ, các máy móc bị hư hỏng nặng.

Hoạt động

Sau khi được sửa chữa thành công, tháng 11 năm 1962, tàu Bình Minh chở hơn 100 tấn vũ khí trang bị xuất phát vào Nam, với điểm đến là Khu V - khu vực ngày trước Tiểu đoàn 603 đã thử nghiệm vận chuyển nhưng thất bại.

Tuy nhiên, khi tàu chạy vào biển Nghệ An thì bị tràn nước, thả trôi. Trong tình hình các tàu chiến Mỹ thường xuyên xâm nhập hải phận để do thám cùng sự quấy phá, tấn công bằng biệt kích của Việt Nam Cộng hòa, tàu Bình Minh có nguy cơ bị lộ. Từ đó con đường vận chuyển chiến lược sẽ không còn yếu tố bí mật.

Được lệnh, tàu tuần tiễu T-175 thuộc phân đội 6 (Đoàn 135), do thuyền trưởng Trần Phong chỉ huy, xuất phát từ Căn cứ Hải quân II (Cửa Hội) tiến hành tìm kiếm. Sau nhiều giờ, T-175 phát hiện ra tàu Bình Minh đang ở vị trí cách đảo Hòn Mê 15 hải lý. T-175 nhanh chóng kéo tàu _Bình Minh _về căn cứ an toàn.

Kết quả

Sau chuyến đi thất bại của tàu Bình Minh, Bộ Quốc phòng nhận định: Không thể sử dụng loại tàu gỗ chạy trên sông, ven biển để chạy ngoài khơi trong thời gian nhiều ngày, mà cần dùng những phương tiện vận chuyển tốt hơn trong mọi thời tiết. Trong khi đó, lực lượng vũ trang, đặc biệt là các đơn vị bộ đội chủ lực hình thành cần có trang bị vũ khí đảm bảo kịp thời.

Từ kết luận trên, Quân ủy Trung ương quyết định giao cho Xưởng đóng tàu III, Hải Phòng đóng những chiếc tàu sắt đầu tiến cho đoàn tàu không số thuộc các lớp tàu 45 tấn, 65 tấn và 100 tấn.

Về thuyền trường T-175 Trần Phong, sau nhiệm vụ trên, ông được điều chuyển sang đoàn 759 (về sau đổi tên là đoàn 125). Trong số các tàu không số mà ông chỉ huy có tàu 55 - chiếc tàu sắt đầu tiên cập bến Cồn Lợi, Bến Tre.

👁️ 95 | 🔗 | 💖 | ✨ | 🌍 | ⌚
**_Bình Minh_** là một chiếc tàu vận tải quân sự hoán cải từ tàu du lịch thuộc đoàn tàu không số - Đoàn 759, Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam. ##
Nối PPR 75 ống nước nóng Bình Minh_NPR75 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 40 ống nước nóng Bình Minh_NPR40 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 63 ống nước nóng Bình Minh_NPR63 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 32 ống nước nóng Bình Minh_NPR32 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 90 ống nước nóng Bình Minh_NPR90 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 25 ống nước nóng Bình Minh_NPR25 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 110 ống nước nóng Bình Minh_NPR110 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 20 ống nước nóng Bình Minh_NPR20 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Nối PPR 50 ống nước nóng Bình Minh_NPR50 Nối còn gọi là măng xông, nối thẳng, nối trơn, côn (tiếng anh Plaint socket) dùng để nối hai ống lại với nhau theo một đường thẳng. Đặc điểm Nhựa PPR: - Được
Co PPR 40 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Co PPR 110 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Co PPR 90 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Lơi PPR 110 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Co PPR 32 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Co PPR 50 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Lơi PPR 25 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Co PPR 20 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Co PPR 63 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Co PPR 25 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Lơi PPR 20 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Co PPR 75 ống nước nóng Bình Minh Đặc điểm:  - Được sản xuất từ hỗn hợp nhựa Polypropylene Random Copolymers & PP-R80  - Chịu được nhiệt độ cao 95 độ C, chịu va đập
Lơi PPR 32 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Lơi PPR 50 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Lơi PPR 40 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Lơi PPR 63 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Lơi PPR 90 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
Lơi PPR 75 ống nước nóng Bình Minh Lơi có nhiều nơi còn gọi là co lơi, chếch, co 135 độ, co 45 độ, cút 45 độ (tiếng Anh gọi là 45° Elbow) dùng chuyển hướng
**_Akagi_** (tiếng Nhật: 赤城; Hán-Việt: _Xích Thành_) là một tàu sân bay của Hải quân Đế quốc Nhật Bản hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, được đặt tên theo núi Akagi thuộc
**_I-177_** (nguyên là **_tàu ngầm số 155_**, rồi **_I-77_** cho đến ngày 20 tháng 5, 1942) là một tàu ngầm tuần dương thuộc phân lớp Kaidai VII, nhập biên chế cùng Hải quân Đế quốc
là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, là chiếc thứ hai trong lớp _Aoba_ bao gồm hai chiếc. Tên của nó được đặt theo đỉnh núi Kinugasa tọa
**_Chikuma_** (tiếng Nhật: 筑摩) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, là chiếc thứ hai trong lớp _Tone_ vốn chỉ có hai chiếc. Tên của nó được đặt
**Lực lượng Không quân Cường kích** là một binh chủng thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân - Quân đội nhân dân Việt Nam, có chức năng sử dụng các máy bay cường kích nhằm thực
**_I-75_**, sau đổi tên thành **_I-175_**, là một tàu ngầm tuần dương Chiếc tàu ngầm trang bị hai động cơ diesel Kampon Mk.1A Model 8 hai thì công suất , mỗi chiếc vận hành một
**Bộ đội Bình Xuyên** () là một tổ chức chính trị - quân sự tồn tại ở khu vực Nam Bộ trong khoảng 1945 đến 1960. ## Lịch sử _Bình Xuyên_ vốn là tên một
**Binh chủng Tàu ngầm** là một binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam, thuộc Quân chủng Hải quân, có nhiệm vụ tiêu diệt các loại tàu ngầm, tàu nổi cũng như các phương
**_I-56_** là một tàu ngầm tuần dương lớp được Hải quân Đế quốc Nhật Bản chế tạo trong giai đoạn cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1944, nó hoạt động
**Trạm vũ trụ _Hòa Bình**_, hay **Trạm vũ trụ _Mir_** (tiếng Nga: Мир - _Mir_ - có nghĩa là "hòa bình"), là một trạm nghiên cứu được phóng lên vũ trụ vào ngày 19 tháng
**_I-18_** là một tàu ngầm tuần dương thuộc lớp Type C được Hải quân Đế quốc Nhật Bản chế tạo ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1940, nó đã
**_I-123_**, nguyên là **_Tàu ngầm số 50_** và mang tên **_I-23_** từ năm 1927 đến năm 1938, là một tàu ngầm rải mìn lớp _I-121_ được Hải quân Đế quốc Nhật Bản chế tạo trong
**_I-20_** là một tàu ngầm tuần dương thuộc lớp Type C được Hải quân Đế quốc Nhật Bản chế tạo ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1940, nó đã
**_Ashigara_** (tiếng Nhật: 足柄) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp _Myōkō_ bao gồm bốn chiếc; những chiếc còn lại trong lớp này là _Myōkō_, _Nachi_
**_I-183_** (nguyên mang tên **_I-83_**) là một tàu ngầm tuần dương thuộc phân lớp Kaidai VII, nhập biên chế cùng Hải quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1943. Nó đã hoạt động trong Chiến
**_I-22_** là một tàu ngầm tuần dương thuộc lớp Type C được Hải quân Đế quốc Nhật Bản chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu ngầm thứ hai của
**_I-16_** là một tàu ngầm tuần dương, là chiếc dẫn đầu của lớp Type C được Hải quân Đế quốc Nhật Bản chế tạo ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế
Cơn Sốt Lúc Bình Minh ------------   Cơn Sốt Lúc Bình Minh “Câu chuyện khác thường về tình yêu, chiến tranh, và sức mạnh của những lá thư.” - Jennifer Clement (Tác giả Prayers for
Cơn Sốt Lúc Bình Minh “Câu chuyện khác thường về tình yêu, chiến tranh, và sức mạnh của những lá thư.” - Jennifer Clement (Tác giả Prayers for the Stolen) Thế chiến II kết thúc
Cơn Sốt Lúc Bình Minh “Câu chuyện khác thường về tình yêu, chiến tranh, và sức mạnh của những lá thư.” - Jennifer Clement (Tác giả Prayers for the Stolen) Thế chiến II kết thúc
Cơn Sốt Lúc Bình Minh “Câu chuyện khác thường về tình yêu, chiến tranh, và sức mạnh của những lá thư.” - Jennifer Clement (Tác giả Prayers for the Stolen) Thế chiến II kết thúc
Cơn Sốt Lúc Bình Minh “Câu chuyện khác thường về tình yêu, chiến tranh, và sức mạnh của những lá thư.” - Jennifer Clement (Tác giả Prayers for the Stolen) Thế chiến II kết thúc