✨Thiên niên kỷ 2

Thiên niên kỷ 2

Tập tin:2nd millennium montage.png|Từ trên cùng bên trái, theo chiều kim đồng hồ: Vào năm 1492, Christopher Columbus đã phát hiện ra Bắc Mỹ, mở đầu cho thời đại **thực dân châu Âu tại châu Mỹ**; **Cách mạng Mỹ**, một trong những thời đại khai sáng truyền cảm hứng cho cách mạng Đại Tây Dương vào cuối những năm 1700; **Ottoman chinh phạt Constantinople**; **Bom nguyên tử** từ **Chiến tranh thế giới thứ hai**; **Bóng đèn**, nguồn ánh sáng mới cho toàn nhân loại; người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng vào năm 1969 trong sứ mệnh **Apollo 11**; **Máy bay**, phương tiện mới mang tính đột phá cho ngành hàng không rộng rãi; **Napoleon Bonaparte**, vào đầu thế kỷ 19, người đã gây ảnh hưởng lớn đến Pháp và châu Âu với chủ nghĩa bành trướng, hiện đại hóa, và chủ nghĩa dân tộc; Chiếc điện thoại đầu tiên của Alexander Graham Bell, thiết bị làm thay đổi phương tiện liên lạc; Vào năm 1348, chỉ trong vòng hai năm, **Cái Chết Đen** đã giết chết hơn 100 triệu người trên toàn thế giới và hơn một nửa Châu Âu. (Ảnh nền: Một đoạn trích từ quyển Kinh thánh Gutenberg, cuốn sách lớn đầu tiên được in tại phương Tây sử dụng loại chữ di động, vào những năm 1450)|thumb rect 3 3 253 191 Thực dân châu Âu tại châu Mỹ rect 259 5 438 123 Cách mạng Mỹ rect 445 4 559 159 Constantinopolis thất thủ rect 260 129 438 249 Cái Chết Đen rect 5 212 110 375 Napoleon Bonaparte rect 129 197 253 299 Điện thoại rect 123 309 257 386 Máy bay rect 268 257 432 379 Apollo 11 rect 446 165 560 296 Chiến tranh thế giới thứ hai rect 440 303 514 387 Bóng đèn rect 1 1 566 394 Kinh thánh Gutenberg **Thiên niên kỷ 2** _Công Nguyên_ hay Kỷ nguyên chung là một thiên niên kỷ kéo dài từ năm 1001 đến năm 2000 (thế kỷ 11 đến thế kỷ 20; trong thiên văn học: JD – ).Thời kỳ này bao gồm Thời kỳ Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung cổ của Cựu Thế giới, Thời kỳ Hoàng kim của Hồi giáo và thời kỳ Phục hưng, tiếp đến là thời kỳ cận đại, được đặc trưng bởi các cuộc chiến tranh tôn giáo tại Châu Âu, Thời đại Khai sáng, Thời đại Khám phá và giai đoạn thuộc địa. Hai thế kỷ cuối cùng của thời kỳ này trùng với lịch sử hiện đại, được đặc trưng bởi các cuộc cách mạng công nghiệp hóa, sự trỗi dậy của các quốc gia dân tộc, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, giáo dục rộng rãi, chăm sóc sức khỏe toàn cầu và tiêm chủng ở tại các nước phát triển. Thế kỷ 20 chứng kiến một quá trình toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, đáng chú ý nhất chính là hai cuộc Chiến tranh thế giới và sự hình thành sau đó của Liên hợp quốc. Thế kỷ 20 cũng mang bước tính đột phá về mặt công nghệ bao gồm công nghệ máy bay, truyền hình và chất bán dẫn, bao gồm cả mạch tích hợp. Thuật ngữ "Kỳ tích châu Âu" được đặt ra để ám chỉ sự phát triển chưa từng có về mặt văn hóa và mặt chính trị của thế giới phương Tây trong nửa sau của thiên niên kỷ, nổi lên vào thế kỷ 18 với tư cách là nền văn minh giàu có và quyền lực nhất thế giới, đã làm lu mờ đi triều đại nhà Thanh của Trung Quốc, thế giới Hồi giáo và cả Ấn Độ . Điều này cho phép các nước châu Âu tiến hành thực dân hóa phần lớn thế giới trong thiên niên kỷ này, bao gồm châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương, Nam và Đông Nam Á.

Dân số thế giới trong thời kỳ này đã tăng chưa từng có trong lịch sử, từ khoảng 310 triệu người vào năm 1000 lên khoảng 6 tỷ người vào năm 2000. Tốc độ gia tăng dân số tăng đột biến trong khoảng thời gian này; dân số thế giới xấp xỉ tăng gấp đôi lên 600 triệu vào năm 1700, và tăng gấp ba lần nữa vào năm 2000, cuối cùng đạt khoảng 1,8% mỗi năm trong nửa sau của thế kỷ 20.

Triều đại thành lập

Ấn Độ

  • Vương triều Hồi giáo Delhi (thế kỷ XII - XVI)
  • Vương triều Mogul (thế kỷ XVI - XIX)

    Việt Nam

  • Nhà Lý (từ Lý Thái Tổ đến nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng)
  • Nhà Trần (từ Trần Thái Tông đến Trần Thiếu Đế)
  • Nhà Hồ (từ Hồ Quý Ly đến Hồ Hán Thương)
  • Nhà Lê sơ (từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng)
  • Nhà Mạc (từ Mạc Thái Tổ đến Mạc Toàn)
  • Nhà Nguyễn (từ Gia Long đến Bảo Đại)

    Trung Quốc

  • Nhà Tống (đến thế kỷ XIII)
  • Nhà Nguyên (thế kỷ XIII - nửa sau thế kỷ XIV)
  • Nhà Minh (nửa sau thế kỷ XIV - nửa đầu thế kỷ XVII)
  • Nhà Thanh (nửa đầu thế kỷ XVII - khoảng đầu những năm 10 của thế kỷ XX)

    Lào

  • Lan Xang (thế kỷ XIV - XVIII)
  • Lào (từ thế kỷ XVIII)

    Campuchia

  • Angkor (đến nửa đầu thế kỷ XIX)
  • Cambodia (từ cuối thế kỷ XIX)

Thái Lan

  • Sukhothai (từ thế kỷ XIV - cuối thế kỷ XVIII)
  • Xiêm (cuối thế kỷ XVIII - chưa rõ)
  • Thái Lan (Năm 1238- hiện tại)

    Indonesia

  • Vương triều Mô-giô-pa-hít (giữa những năm 10 của thế kỷ XIII - cuối những năm 20 của thế kỷ XVI)
  • Indonesia (chưa rõ - chưa rõ)

    Myanmar

  • Pa-gan

    Chăm Pa

  • Chăm Pa (thế kỷ II - giữa thế kỷ XI)
  • Chiêm Thành (giữa thế kỷ XI - ?)
👁️ 127 | 🔗 | 💖 | ✨ | 🌍 | ⌚
Tập tin:2nd millennium montage.png|Từ trên cùng bên trái, theo chiều kim đồng hồ: Vào năm 1492, Christopher Columbus đã phát hiện ra Bắc Mỹ, mở đầu cho thời đại **thực dân châu Âu tại châu
**Thiên niên kỷ 2 TCN** là từ năm 2000 trước công nguyên đến năm 1001 trước công nguyên, nghĩa là bằng 1000 năm trong lịch Gregory. Trong vùng Trung Đông, nó đánh dấu thời kỳ
**Thiên niên kỷ**, còn gọi là **thiên kỷ**, là một khoảng thời gian dài 1000 năm. 3 thiên niên kỷ là 3000 năm. ## Đếm năm ### Số thứ tự Phương pháp lúc ban đầu
**Thiên niên kỷ 3** là khoảng thời gian tính từ năm 2001 đến hết năm 3000, nghĩa là bằng 1000 năm, trong lịch Gregory. Các nghiên cứu về tương lai đang diễn ra nhằm tìm
**Thế kỷ 20** là khoảng thời gian tính từ ngày 1 tháng 1 năm 1901 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2000, nghĩa là bằng 100 năm. Thế kỷ 20 bị chi phối bởi
thumb|Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ là sáng kiến của Liên Hợp Quốc. **Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ**, còn gọi là **Mục tiêu Thiên niên kỷ** là 8 mục tiêu được 189
**Các bài toán thiên niên kỷ** (tiếng Anh: _Millennium Prize Problems_) là bảy bài toán nổi tiếng và phức tạp được lựa chọn bởi Viện Toán học Clay vào ngày 24 tháng 5 năm 2000,
Ngày 8 tháng 9 năm 2000, sau ba ngày diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ với sự tham gia của nguyên thủ thế giới tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New
**Tháp Thiên niên kỷ** là một tòa nhà chọc trời nằm trên đường Sheikh Zayed của thành phố Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Được hoàn thành năm 2006, khu căn hộ
Bán cầu Đông cuối thế kỷ 2 TCN. **Thế kỷ 2 TCN** bắt đầu vào ngày đầu tiên của năm 200 TCN và kết thúc vào ngày cuối cùng của năm 101 TCN. Nó được
**Thế kỷ 2** là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 101 đến hết năm 200, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
Trong khảo cổ học, **thời đại đồ sắt** là một giai đoạn trong phát triển của loài người, trong đó việc sử dụng các dụng cụ bằng sắt như là các công cụ và vũ
thumb|Quảng trường hình tròn của nền văn minh Norte Chico. thumb|Nền của kim tự tháp Norte Chico **Văn minh Norte Chico** (cũng gọi là **văn minh Caral** hoặc **văn minh Caral-Supe**) là một xã hội
**Tiếng Phạn Vệ Đà** là một ngôn ngữ cổ thuộc ngữ chi Ấn-Arya của ngữ hệ Ấn-Âu. Nó được lưu giữ trong Kinh Vệ-đà, một tập hợp văn bản tích góp từ giữa thiên niên
**Thế kỷ 21** Công Nguyên là thế kỷ hiện tại tính theo lịch Gregorius. Thế kỷ này bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2001 và sẽ kết thúc vào ngày 31 tháng 12
Grigory Perelman, thiên tài toán học người Nga, người đầu tiên giải được một trong bảy bài toán Thiên niên kỷ của viện toán học Clay với giải thưởng lên đến một triệu dollar đã
**Bắc Kinh** (; ), là thủ đô của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thành phố nằm ở miền Hoa Bắc, và là một trong số bốn trực hạt thị của Trung Hoa, với
_[[Nhà thiên văn học (Vermeer)|Nhà thiên văn_, họa phẩm của Johannes Vermeer, hiện vật bảo tàng Louvre, Paris]] **Thiên văn học** là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử
**Văn minh cổ Babylon** hay **Babylonia** () là một quốc gia cổ đại nói tiếng Akkad và là một vùng văn hóa có trung tâm tại trung-nam Lưỡng Hà (nay là Iraq và Syria). Ban
thumb| Một tấm Babylon ghi lại [[sao chổi Halley vào năm 164 TCN]] **Thiên văn học Babylon** là nền thiên văn học gồm các nghiên cứu hay ghi chép của các vật thể vũ trụ
**Nesebar** (thường ghi chép lại là **Nessebar** và đôi khi **Nesebur**, , phát âm ) là một thành phố cổ và là một trong những khu nghỉ mát lớn bên bờ Biển Đen của Bulgaria
Phật giáo & Truyền thống Kim Cương thừa Phật giáo như một hệ thống triết học và tâm linh lâu đời, đã đồng hành cùng nhân loại qua hàng thiên niên kỷ, mang lại ánh
**_Thiên cơ biến 2: Hoa Đô đại chiến_** (; tựa tiếng Anh: **The Twins Effect II**) là một bộ phim hài - hành động do Hồng Kông sản xuất, phát hành năm 2004. Bộ phim
Phật giáo & Truyền thống Kim Cương thừa Phật giáo như một hệ thống triết học và tâm linh lâu đời, đã đồng hành cùng nhân loại qua hàng thiên niên kỷ, mang lại ánh
Một trăm năm cuối của Thiên niên kỷ thứ hai vừa qua đối với dân tộc Việt Nam ta là một thế kỷ hào hùng, mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn của thời
Nhập Môn Kim Cương Thừa - Bản thường - Trọn bộ 2 tập Phật giáo như một hệ thống triết học và tâm linh lâu đời, đã đồng hành cùng nhân loại qua hàng thiên
Tập tin:1990s decade montage.png|Theo chiều kim đồng hồ từ trên cùng bên trái: rect 1 1 385 312 Kính viễn vọng Hubble rect 392 1 1101 312 Chiến tranh Vùng Vịnh rect 477 318
Phật giáo như một hệ thống triết học và tâm linh lâu đời, đã đồng hành cùng nhân loại qua hàng thiên niên kỷ, mang lại ánh sáng của giác ngộ, sự an lạc nội tâm và con đường vượt thoát khổ đau. Trong ba nhánh lớn của Phật giáo, Kim Cương thừa (hay còn gọi là Phật giáo Tây Tạng) tỏa sáng như một con đường tinh tế, mạnh mẽ và độc đáo, mang đến những phương pháp tu tập thiện xảo, giúp hành giả đạt được giác ngộ viên mãn ngay trong một đời. Giới thiệu về Kim Cương thừa Giáo pháp của Đức Phật được triển khai qua 84.000 pháp môn, đáp ứng sự đa dạng về căn cơ và tâm tính của chúng sinh. Thế nên, trước khi bước vào thực hành bất kỳ pháp môn nào, hành giả cần hiểu rõ bản chất con đường, phương pháp thực hành và giá trị cốt lõi mà pháp môn đó truyền tải. Đặc biệt, Kim Cương thừa được xem là con đường thiện xảo và nhanh chóng nhất để chứng đạt giác ngộ, nổi bật với những phương pháp thực hành đặc biệt về thiền, trì tụng minh chú, quán đỉnh và các nghi lễ phong phú khác. Bộ sách “Nhập Môn Kim Cương Thừa” của tác giả John Powers chính là chiếc chìa khóa giúp độc giả khám phá truyền thống đặc biệt này. Tại đây, trí tuệ và từ bi hòa quyện để tạo nên những phương pháp tu tập mang tính thực tiễn, mang lại lợi ích vô lượng cho tất cả chúng sinh. Kim Cương thừa: Một di sản tâm linh vượt thời gian Kim Cương thừa không chỉ đơn thuần là một truyền thống tâm linh mà còn là một di sản văn hóa quý báu của nhân loại. Dẫu phải đối mặt với nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là sự kiện các vị lama Tây Tạng buộc phải rời quê hương vào thế kỷ 20, truyền thống này vẫn vượt qua mọi ranh giới địa lý để lan tỏa đến các trung tâm Phật giáo và học thuật trên toàn thế giới. Sự lan tỏa này đã giúp Kim Cương thừa trở nên gần gũi hơn với những ai mong muốn khám phá và thực hành. Điểm đặc biệt của Kim Cương thừa là nhấn mạnh khả năng đạt giác ngộ ngay trong đời này, thông qua hệ thống học thuật và các phương pháp tu tập thâm sâu, dưới sự hướng dẫn của các bậc thầy giác ngộ. Phân tích bộ sách “Nhập Môn Kim Cương Thừa” Tác phẩm này được chia thành bốn phần chính, dẫn dắt độc giả khám phá những chiều sâu tâm linh của truyền thống Kim Cương thừa: Phần 1: Nền tảng và giáo lý Phật giáo Phần này giới thiệu khái quát về cuộc đời Đức Phật, các giáo lý nền tảng của Phật giáo và sự phân biệt giữa ba nhánh chính: Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Tác giả làm nổi bật vai trò của Kim Cương thừa như đỉnh cao của hành trình tâm linh, với các nội dung như: Nguyên lý Tứ Diệu Đế – nền tảng của đạo Phật. Con đường Bát Chánh Đạo và cách áp dụng vào đời sống hàng ngày. Khái niệm Tánh Không (Shunyata), cốt lõi trong giáo lý Đại thừa và Kim Cương thừa. Ngoài ra, phần này còn nhấn mạnh cách các phương pháp thực hành thiền định truyền thống (như shamatha và vipassana) được nâng lên một tầm cao mới trong Kim Cương thừa, dành cho những hành giả có căn cơ mạnh mẽ. Phần 2: Lịch sử, văn hóa và đời sống Phật giáo Tây Tạng John Powers dựng nên một bức tranh toàn diện về lịch sử truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng, từ thời vua Songtsen Gampo thế kỷ 7 đến sự phát triển của các dòng truyền thừa chính. Phần này cũng đề cập đến những nghi lễ quan trọng, các lễ hội lớn (như lễ Monlam Chenmo), và vai trò của các đạo sư trong đời sống tâm linh Tây Tạng. Sự kiện Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và cộng đồng Tây Tạng lưu vong được trình bày như một biểu tượng của sự kiên cường và khả năng thích nghi của Kim Cương thừa trước thử thách. Phần 3: Giáo lý và thực hành của Phật giáo Tây Tạng Phần này tập trung vào các giáo lý và nghi thức đặc trưng của Kim Cương thừa, đặc biệt liên quan đến thiền định, cái chết và tái sinh. Mở đầu là phần trình bày vai trò của Mật điển trong nền văn học Phật giáo và làm sáng tỏ rằng Kim Cương thừa là một nhánh phát triển của Đại thừa. Tiếp đến, mandala và mantra (minh chú) và mudra (thủ ấn) là những phương tiện được Kim Cương thừa sử dụng để chuyển hóa tâm thức và liên kết với các phẩm chất giác ngộ. Hệ thống thực hành Mật điển, thực hành sơ khởi (ngöndro) và những giới nguyện gốc của Mật thừa được John Powers trình bày như là nền tảng tri thức và thực nghiệm cần thiết để hành giả đạt được kết quả viên mãn của Kim Cương thừa. Bên cạnh đó, những thực hành của Mật thừa sẽ không có ý nghĩa nếu chúng không liên hệ đến mục tiêu giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Do vậy, trong phần này, tác giả cũng phân tích chi tiết về tiến trình Bardo (trạng thái trung gian sau khi chết), các phương pháp du-già liên hệ đến tiến trình sinh tử, và các nghi lễ giúp một người tái sinh vào cõi lành. Phần 4: Các dòng truyền thừa chính của Phật giáo Tây Tạng Phần cuối của sách đi sâu vào các giáo lý cốt lõi và giới thiệu bốn dòng truyền thừa lớn: Nyingma – truyền thừa xưa nhất, nổi bật với giáo lý Dzogchen (Đại Viên Mãn). Kagyu – tập trung vào thực hành thiền định và giáo lý Mahamudra (Đại Ấn). ..                
Phật giáo như một hệ thống triết học và tâm linh lâu đời, đã đồng hành cùng nhân loại qua hàng thiên niên kỷ, mang lại ánh sáng của giác ngộ, sự an lạc nội
**_Lộc Đỉnh ký 2_** (tựa tiếng Trung: 鹿鼎記2神龍教, tựa tiếng Anh: **_Royal Tramp 2_**) là một bộ phim điện ảnh võ hiệp hài cổ trang Hồng Kông năm 1992 do Vương Tinh đạo diễn, dựa
**Thời kỳ đồ gốm Trất Văn** hay **Thời kỳ đồ gốm Jeulmun** là một thời đại khảo cổ ở Triều Tiên thời tiền sử kéo dài từ năm 8000 TCN tới 1500 TCN. Thời kỳ
Một nền văn học rực rỡ kéo dài gần nghìn năm – nay được hệ thống hóa và trình bày trong một công trình giáo trình bài bản, hiện đại và đầy đủ nội dung.
Lập lại lịch sử biến đổi thời tiết của thời kỳ băng hà nhỏ theo các nghiên cứu khác nhau. **Thời tiểu băng hà** là một giai đoạn thời tiết lạnh đi trên Trái Đất
Một nền văn học rực rỡ kéo dài gần nghìn năm – nay được hệ thống hóa và trình bày trong một công trình giáo trình bài bản, hiện đại và đầy đủ nội dung.
**Thế kỉ 16 TCN** bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm 1600 TCN và kết thúc vào năm 1501 TCN. ## Sự kiên 1595 TCN - Mursili I , vua của người Hittite ,
**Thời kỳ đồ gốm Vô Văn** hay **Thời kỳ đồ gốm Mumun** là một thời đại khảo cổ học ở Triều Tiên thời tiền sử có niên đại khoảng 1500-300 TCN Thời đại này được
**Thế kỷ 12 TCN** bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm 1200 TCN và kết thúc vào ngày cuối cùng của năm 1101 TCN ## Sự kiện 1200 TCN : Nền văn minh đầu
**Thế kỷ 19** là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1801 đến hết năm 1900, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory (tức là lịch cổ). Nhưng theo Lịch thiên văn, Thế
**Thế kỷ 17** là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1601 đến hết năm 1700, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory, trước thế kỷ 18 và sau thế kỷ 16. Thế
; Đây là **danh sách các nhà lãnh đạo nhà nước trong thế kỷ 20 trước Công nguyên** (năm 2000–1901 trước Công nguyên). ## Châu Phi: Đông Bắc **Kush** * Vương quốc Kush ** Kaa,
**Thế kỉ 17 TCN** bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm 1700 TCN và kết thúc vào năm 1601 TCN. ## Sự Kiện 1698 TCN : Hạ vương Tiết qua đời sau 25 năm
**Thế kỷ 18** (tức thế kỷ XVIII) là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1701 đến hết năm 1800, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. Ở châu Âu, xảy ra sự
thumb|Tranh của Gergio Deluci năm 1893, _[[Christopher Columbus đặt chân tới châu Mỹ năm 1492_ ]] **Thế kỷ 15** (XV) là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1401 đến hết năm 1500, nghĩa
**Thế kỷ 16** là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1501 đến hết năm 1600, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Mercator_World_Map.jpg|nhỏ|300x300px|Bản đồ thế giới của [[Amerigo Vespucci (năm 1587)]] ##
**Thế kỷ 13** là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1201 đến hết năm 1300, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. ## Lịch sử phải|Sự bành trướng của Đế quốc Mông
thumb|Bán cầu Đông năm 1300 TCN thumb|Cốc uống rượu, [[Nhà Thương, thế kỷ 13 TCN, Phòng tranh Arthur M. Sackler.]] Thế kỉ 13 TCN bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm 1300 TCN và
**Thế kỉ 15 TCN** bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm 1500 TCN và kết thúc vào năm 1401 TCN. ## Sự Kiện thumb|right|Tượng [[Thutmosis III ở bảo tàng Museum, Vienna]] Ai Cập chinh
thumb|Bán cầu Đông năm 1400 TCN thumb|Cốc uống rượu, [[Nhà Thương, thế kỷ 13 TCN, Phòng tranh Arthur M. Sackler.]] thumb|Phía bắc [[Đấu trường La Mã]] **Thế kỉ 14 TCN** bắt đầu từ ngày đầu
nhỏ|Lời nguyện cầu nguyện của Santa Maria a Garbagna Novarese **Thế kỷ 11** là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1001 đến hết năm 1100, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
**Thế kỷ 14** là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1301 đến hết năm 1400, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory. ## Phát minh và khám phá *Năm 1368: Chu Nguyên