✨Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Việt Nam
Du lịch là ngành công nghiệp không khói và là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 nhấn mạnh: Phát triển du lịch bền vững, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành và lĩnh vực khác, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Phát triển du lịch bền vững cũng là một trong những trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương, giúp khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu giảm nghèo, bảo vệ môi trường, giữ gìn các giá trị, bản sắc văn hóa, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội (MB).Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch có tính đến đầy đủ các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lai, vừa đáp ứng được nhu cầu của du khách và sự phát triển của ngành du lịch, vừa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và các yêu cầu của cộng đồng địa phương. Phát triển du lịch bền vững liên quan đến các khía cạnh môi trường, kinh tế và văn hóa xã hội của phát triển du lịch, đòi hỏi phải thiết lập sự cân bằng hợp lý giữa ba khía cạnh này để bảo đảm tính bền vững lâu dài(1).
Du lịch bền vững giúp quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn nhu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, hưởng thụ của con người, đồng thời vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học và sự phát triển của các hệ sinh thái. Khái niệm du lịch bền vững liên quan chặt chẽ đến các khái niệm về du lịch sinh thái, du lịch xanh,...
Ở Việt Nam, Luật Du lịch năm 2017 đưa ra định nghĩa: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”(2).
Phát triển du lịch bền vững gồm 3 nội dung cơ bản sau:
(1) Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế du lịch cao hợp lý, ổn định, liên tục
Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch cần được xác định ở mức độ phù hợp, căn cứ vào các điều kiện thực tế, để đáp ứng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng của ngành du lịch, đồng thời không tạo nên áp lực đòi hỏi phải đổi lại bằng sự suy giảm tài nguyên và môi trường du lịch. Theo đó, tăng trưởng của ngành kinh tế du lịch không vượt quá khả năng tái tạo của nguồn tài nguyên, khả năng chịu đựng của cơ sở vật chất ngành du lịch và sức chứa xã hội ở địa phương để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch ngày càng tốt hơn, sản phẩm du lịch ngày càng thỏa mãn và làm hài lòng du khách. Tăng trưởng du lịch bền vững cần dựa vào chiến lược: ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn khách hơn là theo đuổi thuần túy số lượng khách du lịch.
Phát triển du lịch bền vững giúp thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương trên nhiều khía cạnh: thúc đẩy sự gia tăng về quy mô của nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hóa của các hoạt động kinh tế cũng như ổn định và mở rộng nguồn thu cho ngân sách từ thuế và các dịch vụ khác do chính quyền cung cấp. Đứng trên góc độ quản lý nhà nước, việc tăng nguồn thu cho ngân sách bằng cách hướng tới việc phát triển du lịch bền vững là một trong những động lực lớn khuyến khích chính quyền địa phương đầu tư phát triển hạ tầng như đường giao thông, bệnh viện, viễn thông, năng lượng... tại địa phương, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ công và môi trường sống của người dân bản địa.
(2) Thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa
Quá trình phát triển du lịch sẽ khuyến khích, thu hút và tạo việc làm cho lao động địa phương trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch, đồng thời tạo tác động lan tỏa, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực kinh tế khác phát triển, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân trong cộng đồng địa phương. Nói cách khác, du lịch có thể mang lại hiệu ứng phát triển bao trùm.
Phát triển du lịch tạo nhu cầu, điều kiện và đồng thời cũng đặt ra mục tiêu bảo đảm sự khai thác, sử dụng hiệu quả và hợp lý các giá trị văn hóa bản địa, di sản văn hóa, nguồn lực tài nguyên nhân văn của địa phương để có thể duy trì được sự bền vững, tính đặc sắc trong dài hạn. Với việc mở rộng thị trường khách du lịch, trong đó cơ cấu khách du lịch quốc tế ngày càng đa dạng, hình ảnh tốt đẹp của địa phương, của quốc gia cũng được quảng bá, lan tỏa ra thế giới, từ đó tạo thuận lợi cho việc mở rộng, thúc đẩy phát triển các quan hệ giao thương, hợp tác quốc tế. Du lịch nói chung và du lịch bền vững nói riêng còn là cầu nối để du khách và người dân bản địa thấu hiểu lẫn nhau. Việc này giúp cho du khách có những trải nghiệm lý thú trong quá trình du lịch và khám phá các nét văn hóa đặc sắc và con người tại địa phương; đồng thời người dân địa phương cũng qua việc tiếp xúc với khách du lịch để tìm hiểu thêm về văn hóa ở các vùng miền hoặc quốc gia khác nhau, qua đó làm giàu thêm cho phong tục, tập quán của mình.
(3) Bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh
Điều này bao gồm cả hai khía cạnh: giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái trong hoạt động du lịch; giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái để tạo tiền đề, điều kiện cho du lịch phát triển bền vững. Một trong các tiêu chí lớn nhất để đánh giá tính bền vững trong phát triển du lịch tại một địa phương chính là việc bảo tồn, duy trì nguồn tài nguyên sinh thái và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của con người trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch lên môi trường. Phát triển du lịch bền vững phải bảo đảm được rằng các tài nguyên du lịch của địa phương như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, giá trị văn hóa,... không bị tác động tiêu cực, không gây ra hao hụt các giá trị nguyên bản hay tác động xấu cho việc khai thác chúng trong lâu dài.
Để phát triển du lịch bền vững cho quốc gia nói chung và địa phương nói riêng, các nhà quản lý cần phải lên kế hoạch chi tiết để giải quyết những vấn đề cụ thể trên nguyên tắc cân bằng giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai, cân bằng giữa phát triển trong ngắn hạn và phát triển trong dài hạn nhằm bảo đảm việc phát triển du lịch là hiệu quả, bền vững tránh xảy ra tình trạng hao hụt, lãng phí các nguồn lực phát triển. Theo đó, cần có những giải pháp đặc biệt để quản lý việc khai thác sao cho phù hợp, tránh xảy ra tình trạng khai thác quá mức làm hao hụt hoặc phá hủy hoàn toàn những nguồn tài nguyên du lịch quý báu của quốc gia nói chung và của địa phương phát triển du lịch nói riêng. Đồng thời, cần tích cực đầu tư trở lại bằng nguồn thu từ du lịch cho công tác bảo vệ tài nguyên, phát triển các tài nguyên du lịch có khả năng tái sinh và bảo vệ môi trường.Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch với nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, phong phú và đa dạng khắp trên mọi miền đất nước, có sức hấp dẫn đối với du khách. Việt Nam có hơn 40.000 di tích và thắng cảnh, trong đó hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, 5.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.
Việt Nam cũng là một trong những số ít quốc gia trên thế giới được UNESCO công nhận nhiều di sản, gồm: Di tích Hoàng thành Thăng Long, phố cổ Hội An, quần thể danh thắng Tràng An, cố đô Huế, thành nhà Hồ, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long. Đây là một trong những tiềm năng du lịch Việt Nam thu hút khách quốc tế. Hơn nữa, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có khoảng 117 bảo tàng - nơi lưu giữ quá trình lịch sử của dân tộc với những dấu ấn hào hùng có sức lôi cuốn du khách tìm hiểu về lịch sử Việt Nam.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, lối sống riêng khác nhau tạo thành nét cuốn hút riêng. Việt Nam còn có di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng: Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù, quan họ, hát xoan, hội Gióng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương... để thu hút khách du lịch. Đặc biệt, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu khách, đây là một trong những yếu tố hấp dẫn và thiện cảm đối với du khách quốc tế.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới mục tiêu đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xác định phát triển du lịch bền vững và bao trùm là quan điểm định hướng, dẫn dắt sự phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn mới. Để thực hiện mục tiêu đó, các chính sách luôn hướng tới tạo môi trường đầu tư thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế có thể tham gia đầu tư vào lĩnh vực du lịch, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng trước pháp luật.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, ngành Du lịch Việt Nam đã tập trung ưu tiên phát triển hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải, thông tin, dịch vụ du lịch, nơi vui chơi, giải trí, văn hóa... phục vụ du lịch, nâng cao sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch, bảo đảm tính bền vững môi trường và phát triển nguồn nhân lực du lịch, tạo nên “đòn bẩy” quan trọng giúp Việt Nam trở thành điểm đến thu hút đối với du khách trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng cũng được xem là cơ hội để các doanh nghiệp du lịch phát triển. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của du khách và sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp trên thị trường, các doanh nghiệp du lịch buộc phải vươn lên, tự khẳng định và hoàn thiện mình thông qua việc nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để Việt Nam có thể học hỏi từ các nước trên thế giới kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực du lịch, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và theo kịp trình độ quốc tế về du lịch.
Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức không nhỏ.
Thứ nhất, mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong đầu tư xây dựng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng du lịch theo hướng đồng bộ và hiện đại hơn, song hệ thống giao thông đường bộ, hàng không, cầu cảng... trong nước vẫn được coi là kém phát triển, thiếu các tiêu chuẩn an toàn và dễ tiếp cận cho khách du lịch để có thể di chuyển nhanh chóng, an toàn và thuận tiện. Chi phí cho việc di chuyển, cước phí giao thông còn cao. Hệ thống thông tin viễn thông chưa phát triển rộng khắp, chất lượng còn hạn chế trong khi giá dịch vụ lại cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, các tiện nghi phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, giải trí... tuy đã tăng lên về số lượng, nhưng nhiều nơi vẫn chưa bảo đảm về chất lượng dịch vụ.
Thứ hai, các quy định pháp lý về quản lý du lịch chưa đầy đủ và còn không ít bất cập đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh du lịch. Nhận thức của doanh nghiệp và người dân về phát triển du lịch theo hướng bền vững còn hạn chế. Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh du lịch của Việt Nam thuộc loại nhỏ, việc bảo đảm chất lượng dịch vụ còn hạn chế, năng lực quản lý thấp, khả năng cạnh tranh quốc tế yếu. Trong khi hệ thống luật pháp Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh, nhiều cơ sở kinh doanh chưa tạo dựng được uy tín, làm ăn mang tính chộp giật, chặt chém khách; có nhiều nơi, hoạt động diễn ra tự phát, lộn xộn, thậm chí gây phiền toái cho khách, một số vụ việc tiêu cực làm ảnh hưởng đến hình ảnh của du lịch Việt Nam. Ý thức tôn tạo và bảo vệ cảnh quan môi trường du lịch chưa được nâng cao đã gây trở ngại cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Trên thực tế, người dân sinh sống trong khu vực du lịch thường xâm phạm đến các tài nguyên du lịch mà không ý thức được hết ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và những lợi ích lâu dài cho cộng đồng. Bên cạnh đó, quá trình mở cửa, hội nhập du lịch cũng ảnh hưởng và làm phức tạp hóa một số vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự xã hội, giữ gìn thuần phong mỹ tục.
Thứ ba, chất lượng các sản phẩm du lịch; mức độ liên kết các sản phẩm du lịch còn rất hạn chế. Hệ luỵ là các dịch vụ du lịch tập trung chủ yếu vào việc khai thác nguồn tài nguyên du lịch, gây nên tình trạng quá tải. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân lực ngành du lịch được đào tạo còn ít, yếu về trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, thiếu kinh nghiệm và sự hiểu biết về du lịch bền vững; đội ngũ quản lý và phục vụ có trình độ chuyên môn cao trong các cơ sở phục vụ kinh doanh du lịch ở lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, các nơi nghỉ dưỡng, các cơ sở vui chơi, giải trí còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh của lĩnh vực du lịch.Bài viết được trích dẫn từ:
- Nguồn:lyluanchinhtri.vn
- Cre : NGUYỄN MẠNH HÙNG
Link
https://thuctap.vn/EcBcDdHa2e51A29