✨Zingiber macradenium
Zingiber macradenium là một loài thực vật có hoa trong họ Gừng. Loài này được Karl Moritz Schumann miêu tả khoa học đầu tiên năm 1899.
Mẫu định danh
Mẫu định danh: Beccari O. 10983; do Odoardo Beccari (1843-1920) thu thập tháng 9
Phân bố
Loài này là đặc hữu đảo Sumatra; có tại các tỉnh Bắc Sumatra, Tây Sumatra, Indonesia.
Phân loại
Schumann (1904) xếp Z. macradenium trong tổ Lampugium (= Zingiber).
Mô tả
Cây thảo lâu năm, mập, mọc cao 0,75-1,5 m. Thân lá đường kính 1 cm. Lá có bẹ cao, bẹ rất rộng, tới 1,5 cm ở đỉnh, mép đỉnh dạng màng-mỏng, có sọc, nhẵn nhụi; lưỡi bẹ mỏng mảnh, dạng màng, thuôn tròn, dài 10 mm; cuống lá gần như không có. Phiến lá thẳng lớn, dài 45–50 cm, rộng 4–5 cm ở đoạn giữa, đỉnh thon nhỏ dần-nhọn thon đáy thuôn tròn, hai mặt nhẵn nhụi. Cụm hoa mọc từ thân rễ; cuống cụm hoa dài; cành hoa bông thóc hình trụ, tù, dài 20 cm, đường kính 7 cm, tương tự như cành hoa ở tổ Hitcheniopsis của chi Curcuma. Lá bắc lớn, thuôn dài-hình trứng ngược, dài 5–6 cm, rộng 2–3 cm, đỉnh thuôn tròn, nhẵn nhụi, màu vàng khi khô chuyển thành nâu hạt dẻ-nâu đỏ. Lá bắc con lớn, dài 5,5–6 cm, xoắn. Bầu nhụy dài 4 mm, nhẵn nhụi. Đài hoa dạng mo, dài 2,5–3 cm, chẻ một bên, mỏng mảnh. Ống tràng dài 3-5,5 cm. Các thùy tràng hoa mỏng mảnh, hình mác, gần dài bằng nhau khoảng 3 cm, màu vàng-trắng; cánh môi hình trứng ngược rất rộng, có khía răng cưa, màu máu sẫm tới tía đen hay tím sẫm, đỉnh có đốm màu ánh vàng, 3 thùy; thùy giữa ngắn, chia 2 thùy con, các thùy bên ngắn, tù. Bao phấn dài 1,5 cm; phần phụ liên kết dài bằng bao phấn; các tuyến mật hình dùi, dài 10 mm. Ra hoa khoảng tháng 9.