✨Si giáng trưởng

Si giáng trưởng

Si giáng trưởng (viết tắt là B) là một cung thứ có chất liệu sáng tác âm nhạc với cung chính là nốt Si giáng (B), bao gồm các nốt nhạc Si giáng (B), Đô (C), Rê (D), Mi giáng (E), Fa (F), Sol (G), La (A) và Si giáng (B). Bộ khóa của nó có hai dấu giáng.

Cung thể tương đương (relative key) với nó là cung Sol thứ và cung thể cùng bậc (parallel key) với nó là cung Si giáng thứ. Các sự thay đổi về giai điệu hay hoà âm trong các phiên bản khác nhau của cung này được viết lại khi cần thiết.

Vị trí âm giai Si giáng trên phím Dương cầm Tập tin:piano As Bes major scale.png

Tác phẩm cổ điển có sử dụng cung này

Giao hưởng số 4 - Ludwig van Beethoven "Hammerklavier" Sonata - Ludwig van Beethoven Concerto cho piano số 2 - Johannes Brahms Giao hưởng số 5 - Anton Bruckner The theme of "Enigma" Variations - Edward Elgar Giao hưởng số 5, Op.100 - Sergei Prokofiev *Giao hưởng số 5 - Franz Schubert

Tác phẩm khác có sử dụng cung này

The Star-Spangled Banner - Francis Scott Key The Internationale - Eugene Pottier 20th Century Fox Fanfare - Lionel Newman Star Wars Main Theme -John Williams All I Really Want - Alanis Morissette La Marseillaise - Claude Joseph Rouget de Lisle Ray of Light - Madonna Il Canto degli Italiani - Michele Novaro In The Ghetto - Elvis Presley One Love/People Get Ready - Bob Marley Karma Chameleon - Culture Club Bohemian Rhapsody - Queen (phần 'opera' ở giọng La trưởng) Mandy - Barry Manilow The Legend of Zelda Overture - Koji Kondo Strawberry Fields Forever - The Beatles Love Story - Francis Lai

Bài hát Việt có sử dụng cung này

Chiều hải cảng - Ngôi sao Hà Nội - Vĩnh Cát *Hà Nội và tôi - Lê Vinh

👁️ 159 | 🔗 | 💖 | ✨ | 🌍 | ⌚
**Si giáng trưởng** (viết tắt là **B**) là một cung thứ có chất liệu sáng tác âm nhạc với cung chính là nốt **Si giáng** (**B**), bao gồm các nốt nhạc **Si giáng** (**B**), Đô
**Giao hưởng số 1 cung Si giáng trưởng, Op. 38**, hay còn gọi là **Giao hưởng mùa xuân** là bản giao hưởng đầu tiên của nhà soạn nhạc người Đức Robert Schumann. Dù Schumann có
**Concerto cho piano số 6** cung Si giáng trưởng, K. 238 là một tác phẩm được sáng tác bởi Wolfgang Amadeus Mozart vào tháng 1 năm 1776. Bản Concerto số 7 (K. 242) cho ba
**Giao hưởng số 2 cung Si giáng trưởng, D. 125** là bản giao hưởng của nhà soạn nhạc tài hoa người Áo Franz Schubert. Schubert đã viết nó trong các năm 1814 và 1815. Bản
**Bản concerto cho vĩ cầm số 1** cung Si giáng trưởng, K. 207, là một sáng tác bởi Wolfgang Amadeus Mozart, từng được cho là đã được sáng tác vào năm 1775 (khi Mozart 19 tuổi),
**Concerto cho piano sô 27, cung Si giáng trưởng, K. 595** là bản concerto cuối cùng của nhà soạn nhạc người Áo Wolfgang Amadeus Mozart. Tác phẩm được viết vào đầu năm 1791. Tác phẩm
**Giao hưởng số 2 cung Si giáng trưởng, Op. 52**, hay còn có tên gọi là **Lobgesang** (tiếng Việt: **Thánh ca khen ngợi**) là tác phẩm của nhà soạn nhạc người Đức gốc Do Thái
**Concerto cho piano số 3, cung Si giáng trưởng** là bản concerto dành cho piano của nhà soạn nhạc vĩ đại người Đức Ludwig van Beethoven. Tác phẩm được sáng tác trong các năm 1787-1789.
**Giao hưởng số 4 cung Si giáng trưởng, Op. 60** là bản giao hưởng của nhà soạn nhạc thiên tài người Đức Ludwig van Beethoven. Ông sáng tác nó vào mùa hè năm 1806. Tác
phải|[[Horst Wessel – tác giả của bài hát]] **_Horst-Wessel-Lied_** (; "Bài ca của Horst Wessel"), còn được gọi bằng lời mở đầu của nó, _Die Fahne hoch_ ("Ngọn cờ tung bay trên cao"), đó là
**Concerto cho piano số 18, cung Si giáng trưởng, K. 456** là bản concerto dành cho piano và dàn nhạc giao hưởng của nhà soạn nhạc thiên tài người Áo Wolfgang Amadeus Mozart. Theo như
**Giao hưởng số 2 cung Si giáng trưởng, Op. 4, B. 12** là bản giao hưởng của nhà soạn nhạc người Séc Antonín Dvořák. Tác phẩm này được ông sáng tác vào năm 1865, chỉ
**Quốc ca Bosna và Hercegovina** là tên của quốc ca Bosna và Hercegovina. Bài hát được phổ nhạc vào năm 1998 bởi Dušan Šestić - một nghệ sĩ violin người Bosnia. Bài quốc ca này
**Bože Pravde** (tiếng Serbia Kiril: **Боже правде**, tiếng Việt: **Chúa của công lý**) là quốc ca Serbia. Nó được sáng tác năm 1872 bởi 2 nhạc sĩ Davorin Jenko & Jovan Đorđević. ## Lời ###
**Il Canto degli Italiani (Bài ca của người Ý)**, cũng được biết tới với cái tên **Inno di Mameli (Hành khúc của Mameli)** hoặc **Fratelli d'Italia (Người anh em toàn nước Ý)** là quốc ca
nhỏ|Biển tượng năm vòng tròn tượng trưng cho năm châu lục **Bài hát Thế Vận Hội**, hay **bài ca Olympic**, là bài hát do Spyros Samaras soạn dựa trên lời một bài thơ của nhà
**Debout Congolais** (; tiếng Việt: _Vùng lên, người Congo_) là quốc ca của Cộng hòa Dân chủ Congo. Ban đầu nó được thông qua vào năm 1960 khi độc lập khỏi Bỉ, nhưng được thay
**Du gamla, Du fria** là quốc ca trên thực tế của Thụy Điển. Bài này do Richard Dybeck, một nhạc sĩ & là nhà khảo cổ người Thụy Điển, vào năm 1844. Sau đó, vào
"**Ô Cameroun berceau de nos ancêtres**" (_tiếng Anh: O Cameroon, Cradle of our Forefathers_, _tiếng Việt: Ôi Cameroon, cái nôi của những người đi trước_) là quốc ca của Cameroon. ## Lịch sử Lời tiếng
**Tuvalu mo te Atua** (Tiếng Tuvalu: Tuvalu là món quà của Thượng đế) là quốc ca của Tuvalu. Lời bài hát do Afaese Manoa soạn. Bài hát được phát vào năm 1978, khi đất nước
**Dievs, svētī Latviju!** (]; "_Chúa phù hộ Latvia!_") là quốc ca của Latvia. Lời và nhạc được sáng tác bởi Kārlis Baumanis (Baumaņu Kārlis, 1835–1905) vào năm 1873. Đồng 2 euro của Latvia có dòng
**Bài ca Shatlak** (tiếng Chechen: Шатлакхан Илли, _Şatlaqan Illi_, ký tự Ả Rập: شاتلاقان ىللى) là quốc ca của Cộng hòa Chechnya ở Nga. Lời sáng tác bởi Hodshy-Ahmed Kadyrov và được Umar Beksultanov phổ